Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6- THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS- ST

Ngày 23 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tống Đức Như- Nghề nghiệp: Giáo viên

Bà Nguyễn Thị Hương- Nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) khu vực 6- Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 6- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở TAND khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST- HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:

TRẦN THỊ H, sinh ngày 11/4/1991, tại tỉnh Thanh Hoá; CCCD số: 038191005128; Cư trú tại: Thôn G, xã H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: nhân viên văn phòng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đ2; Ngày 03/11/2025, Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ xã H ra Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng đối với Trần Thị H; Con ông Trần Văn Đ (đã chết); Con bà: Lưu Thị O; Chồng: Phạm Văn T; Con: có 02 con: con lớn sinh 2015, con nhỏ sinh 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Hải P, sinh ngày 14/3/2007
    Cư trú tại: Thôn M, xã V, tỉnh Ninh Bình
    (anh P vừa là bị hại vừa là bị đơn dân sự) (có mặt)
    Người đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Hải P:
    Bà Nguyễn Thu T1, sinh năm 1982
    Cư trú tại: Căn A Trung tâm thương mại D và nhà ở cao tầng, phường Y, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  2. Chị Vũ Hà Tố N, sinh ngày 29/12/2007
    Cư trú tại: Thôn N, xã L, tỉnh Ninh Bình (có mặt)
    Người đại diện theo pháp luật của chị Vũ Hà T2 Như:
    Bà Ngô Thị L, sinh năm 1985
    Cư trú tại: Thôn N, xã L, tỉnh Ninh Bình (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Hải T3, sinh năm 1979
Cư trú tại: Thôn M, xã V, tỉnh Ninh Bình (có mặt)

Người làm chứng:

  1. Anh Trần Tuấn A, sinh ngày 16/11/2005 (có mặt)
  2. Anh Trần Anh T4, sinh ngày 16/8/2006 (có mặt)
  3. Anh Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 27/8/2007 (có mặt)
  4. Ông Vũ Trọng H1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị H có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số 381212009620, do Sở G cấp ngày 30/6/2021 có giá trị đến ngày 30/6/2031.

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 02/5/2025, chị Trần Thị H điều khiển xe ô tô BKS 36K - 133.68 di chuyển trên đường QL1A theo hướng TP Hà Nội đi tỉnh Thanh Hoá, khi đến Km 293+200 thuộc địa phận phường Q, tỉnh Thanh Hóa, Trần Thị H điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái vào đường T. Do thiếu chú ý quan sát và chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô BKS: 18BA - 062.94 do anh Nguyễn Hải P điều khiển chở phía sau chị Vũ Hà Tố N di chuyển trên đường QL1A hướng tỉnh Thanh Hoá đi TP Hà Nội. Hậu quả: Anh Nguyễn Hải P và chị Vũ Hà Tố N bị thương tích, hai phương tiện bị hư hỏng.

Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Phòng C1 Công an tỉnh T tiếp nhận giải quyết theo quy định. Đến ngày 27/7/2025, Phòng C1 Công an tỉnh T chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T để điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành các bước điều tra, xác minh theo quy định, kết quả như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông thuộc đường QL1A thuộc địa phận phường Q, tỉnh Thanh Hóa, được trải nhựa bằng phẳng, lòng đường rộng 9 mét, đường thẳng, cách vị trí va chạm về hướng Nam 40 mét có một biển báo giao nhau với đường không ưu tiên. Lấy cột Km 293+200 đường QL1A làm điểm mốc, lấy mép đường nhựa phía Đông, QL1A làm chuẩn.

Tại hiện trường xác định 06 vị trí như ghi nhận trong sơ đồ hiện trường. Quá trình khám nghiệm đã thu giữ: 01 xe ô tô BKS 36K - 133.68 và 01 xe mô tô BKS 18BA - 062.94.

Kết quả xác định hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại K 293+200 khu vực giao nhau giao nhau giữa đường QL1A và đường T thuộc địa phận phường Q, tỉnh Thanh Hóa. Đường quốc lộ được trải nhựa bằng phẳng. Lòng đường hướng xã H đi phường B rộng 9,0 mét, mặt đường phẳng, có vạch kẻ trắng nét đứt phân chia 02 làn đường xe cơ giới. Quốc lộ A theo chiều từ xã H đi phường B và ngược lại gần khu vực hiện trường là đoạn đường thẳng, không có hệ thống đèn tín hiệu, đường T rộng 4,7 mét, cách khu vực hiện trường về hướng Nam 40 mét (chiều đường xã H - phường B) tại mép lề đường bên phải có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên.

Lấy cột mốc H2/293 nằm trên dải phân cách cứng giữa đường QL1A làm mốc chuẩn, ký hiệu A (mô tả trên sơ đồ hiện trường). Lấy mép đường bên phải theo chiều xã H - phường B của đường QL1A làm mép chuẩn, ký hiệu B (mô tả trên sơ đồ hiện trường). Căn cứ theo dấu vết còn lại tại hiện trường của Phòng Cảnh sát giao thông ngày 02/5/2025. Tiến hành đặt số thứ tự từ 01 đến 06 để xác định ghi nhận các dấu vết, phương tiện.

Vị trí số (1) xác định là vị trí xe ô tô BKS 36K - 133.68 dừng đỗ tại đầu đường T (dừng sát mép lề đường bên phải), đầu xe quay hướng Đông, đuôi xe quay hướng Tây. Trục bánh trước bên trái xe ô tô cách (B) 11,6 mét về hướng Đông, trục bánh sau bên trái cách (B) 8,8 mét về hướng Đông. Đo từ trục bánh sau bên trái xe ô tô về hướng T 9 mét là vị trí vết cà trượt nằm trên vỉa hè (vị trí số 2).

Vị trí số (2) xác định là vị trí vết cà trượt trên vỉa hè có kích thước (0,2 x 0,1) mét, vết có chiều N1 - Bắc, đầu vết cách (B) 0,8 mét về hướng Đông, cuối vết cách (B) 1 mét về hướng Đông. Đo từ cuối vết cà cách trục bánh sau xe mô tô BKS 18BA - 062.94 (vị trí số 3) về hướng Bắc là 5,4 mét.

Vị trí số (3) xác định là vị trí xe mô tô BKS 18BA - 062.94 nằm đổ nghiêng trái trên vỉa hè. Đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng T. T5 trục bánh trước xe mô tô cách (B) 3,1 mét về phía Đông, trục bánh sau cách (B) 2,5 mét về phía Đông. Đo từ trục sau xe mô tô cách (A) 13,4 mét về phía Đông (đo vuông góc với QL1A).

Vị trí số (4) xác định là vị trí vết cà trượt trên vỉa hè có kích thước (0,7 x 0,02) mét, vết có chiều T - Đông Bắc. Đầu vết trùng với trục bánh sau xe mô tô (3). Đầu vết cà (4) cách (B) 2,8 mét về phía Đông, cuối vết cách (B) 3,1 mét về hướng Đông. Đo từ trục trước xe mô tô (3) về hướng Bắc 0,4 mét là chân giá để hàng đặt trên vỉa hè.

Vị trí số (5) xác định là vị trí giá để hàng trên vỉa hè. Giá để hàng bị cong đẩy theo chiều N1 - Bắc.

Vị trí số (6) xác định là vị trí vết máu trên vỉa hè có kích thước (0,27 x 0,18) mét. T5 vết cách (B) 1,7 mét về hướng Đông. T5 vết máu cách (A) 28 mét về hướng Bắc (đo vuông góc theo chiều đường QL1A).

Kết quả khám nghiệm dấu vết cơ học:

Bản kết luận giám định số 1719A/KL-KTHS ngày 21/5/2025 của Phòng K1-Công an tỉnh T về giám định dấu vết đối với xe ô tô BKS: 36K-133.68 và xe mô tô BKS: 18BA-062.94 và Bản kết luận giám định số 3758/KL- KTHS ngày 30/9/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T về giám định dấu vết cơ học qua hồ sơ, đều kết luận:

  • - Va chạm giữa xe ô tô BKS: 36K-133.68 với xe mô tô BKS: 18BA-062.94:
  • + Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trước bên trái đầu xe ô tô BKS: 36K-133.68 với mặt trên ngoài bên trái phần trước chắn bùn trước xe mô tô BKS: 18BA-062.94.
  • + Tại thời điểm va chạm, xe ô tô BKS: 36K-133.68 chuyển động từ trái sang phải ngược chiều so với hướng chuyển động của xe mô tô BKS: 18BA-062.94.
  • + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt trên vỉa hè (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, ngay khu vực giao nhau giữa Quốc lộ A với đường T đi UBND xã Q cũ.
  • + Không đủ cơ sở xác định tốc độ của các phương tiện và phương tiện nào có tốc độ lớn hơn tại thời điểm xảy ra va chạm.
  • - Ngoài va chạm với nhau, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS: 18BA-062.94, xe ô tô BKS: 36K-133.68 với phương tiện khác

Kết luận giám định thương tích:

Tại các bản kết luận giám định số: 5218 và 5219/KL-KTHS ngày 22/7/2025 và các bản kết luận giám định số 7221 và 7222/KL-KTHS ngày 30/9/2025 của V - Bộ C2, đều kết luận:

  • - Tại thời điểm giám định, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Vũ Hà Tố N là 31%.
  • - Tại thời điểm giám định, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Hải P là 49%.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Vũ Hà Tố N và anh Nguyễn Hải P là 80%.

Kết quả kiểm tra, giám định nồng độ cồn, chất ma tuý:

Tại các phiếu xét nghiệm ngày 03/5/2025 của Bệnh viện Đ3 thể hiện, mẫu nước tiểu của Trần Thị H, Nguyễn Hải P âm tính với các chất ma túy thông thường; mẫu máu của Trần Thị H, Nguyễn Hải P không phát hiện thấy nồng độ côn. Ngoài xét nghiệm, Phòng Cảnh sát giao thông không tiến hành thu mẫu để trưng câu giám định.

Kết quả trưng cầu định giá tài sản:

Tại bản kết luận số 487/KL-HĐĐG ngày 07/10/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự UBND tỉnh T, kết luận:

  • - Giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS 36K - 133.68 là 20.624.078 đồng; của xe mô tô BKS: 18BA 062.94 là 8.350.000 đồng.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn xảy ra, bị cáo Trần Thị H đã trực tiếp bồi thường cho Nguyễn Hải P 10.000.000 đồng và cho chị Vũ Hà Tố N 7.000.000 đồng. Chị N yêu cầu chị H bồi thường thêm số tiền 295.000.000 đồng, anh P yêu cầu chị H bồi thường thêm số tiền 290.770.799 đồng tiền chi phí điều trị thuốc men nhưng H không đồng ý. Bị cáo đã nộp vào Phòng thi hành án số 6- Thanh Hóa số tiền 100.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại.
  • * Về tang vật, tài sản, giấy tờ thu giữ:

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tạm giữ xe ô tô BKS: 36K -133.68, xe mô tô BKS: 18BA-062.94 cùng toàn bộ giấy tờ có liên quan.

Kết quả tra cứu xác định: xe ô tô 36K - 133.68 có chủ sở hữu hợp pháp là Trần Thị H, xe mô tô BKS: 18BA-062.94 có chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Hải T3 (là bố đẻ Nguyễn Hải P) và các phương tiện này không phải là tang vật, vật chứng trong các vụ án, vụ việc nào nên Phòng C1 Công an tỉnh T đã ra trả lại phương tiện cho chủ sở hữu theo quy định.

Đối với giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trần Thị H, hiện đang tạm giữ, kèm theo hồ sơ vụ án.

* Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKSKV6 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của VKSND khu vực 6- Thanh Hoá truy tố bị cáo Trần Thị H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự (BLHS);

Tại phiên tòa Đại diện VKS duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 BLHS, tuyên phạt bị cáo Trần Thị H từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/12/2025) về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Hình phạt bổ sung: Không.
  • Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận các khoản chi phí hợp lý cho việc bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật của các bị hại Nguyễn Hải PVũ Hà Tố N. Bị cáo Trần Thị H và anh Nguyễn Hải P phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản đối với xe mô tô của ông Nguyễn Hải T3 và ô tô của bị cáo Trần Thị H. Chia trách nhiệm bồi thường theo mức độ lỗi (bị cáo H chịu 70%, anh P chịu 30%), sau khi trừ đi các khoản bị cáo đã bồi thường cho các bị hại và khoản nộp trước vào Phòng thi hành án để thực hiện bồi thường thì:

Bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho:

  • + Chị Vũ Hà Tố N số tiền từ 50.000.000₫ đến 70.000.000₫;
  • + Anh Nguyễn Hải P số tiền từ 40.000.000₫ đến 70.000.000₫.
  • + Ông Nguyễn Hải T3 số tiền 5.845.000₫

Anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho chị Vũ Hà Tố N số tiền từ 45.000.000₫ đến 70.000.000đ và bồi thường cho ông Nguyễn Hải T3 số tiền 2.783.000₫

  • - Xử lý vật chứng: đề nghị trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô cho bị cáo Trần Thị H.
  • - Án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST, bị đơn dân sự phải nộp án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thị H nhất trí với bản luận tội của VKS, bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tranh luận với đại diện VKS về những nội dung:

Thứ nhất: Không đồng ý về lỗi giao thông mà đại diện VKS đã luận tội đối với bị cáo, trong vụ án này anh P không có lỗi, vì anh P đang đi trên phần đường đường ưu tiên nên lỗi hoàn toàn là của bị cáo H, H sang đường không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, nên dẫn đến tai nạn xảy ra. Như vậy, đại diện VKS xác định P cũng có lỗi là hoàn toàn sai.

Thứ hai:VKS truy tố bị cáo Trần Thị H theo khoản 1 Điều 260 BLHS là không đúng, vì khi xảy ra tai nạn bị cáo không đưa nạn nhân đi cấp cứu, thái độ thờ ở, thiếu trách nhiệm nên phải truy tố khoản 2 Điều 260 BLHS về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” mới đúng tội.

Thứ ba: Đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS vì hiện tại gia đình của Như mới nhận được 7.000.000₫ và anh P mới nhận được 10.000.000₫ nên đây không phải là khắc phục thiệt hại vì số tiền quá ít so với số tiền gia đình đã vay mượn chữa trị cho bị hại.

Thứ tư: Đề nghị xem xét lại tư cách đảng viên của bị cáo.

Thứ năm: Về chi phí sửa chữa xe mô tô BKS 18BA-062.94 ông Nguyễn Hải T3 cho rằng Hội đồng định giá thiệt hại về xe mô tô của ông là 8.350.000đ, tuy nhiên, vì vành xe bị hỏng không đi được nên ông sửa thêm 2.000.000đ, tổng là 11.350.000đ, nên ông đề nghị bị cáo H phải bồi thường tiền sửa chữa cho ông là 11.350.000đ.

Từ những vấn đề nêu trên đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung.

* Đại diện VKS đã đối đáp từng vấn đề mà đại diện bị hại P, đại diện bị hại Như và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải T3 đã tranh luận. Cụ thể:

  • - Bị cáo H là Đảng viên nên sau khi bị khởi tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bị cáo H đã bị Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ xã H, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng. Việc đình chỉ sinh hoạt, khai trừ khỏi đảng đã là hình thức kỷ luật Đảng viên Trần Thị H của Tổ chức Đảng có thẩm quyền. HĐXX và Viện kiểm sát không có quyền và không có trách nhiệm xem xét tư cách Đảng viên của bị cáo.
  • - Ông Nguyễn Hải T3 đã nộp tài liệu thể hiện chi phí về sửa chữa xe máy của ông là 11.350.000đ, tuy nhiên kết luận giám định của Hội đồng định giá thường xuyên đối với thiệt hại về xe máy là 8.350.000đ nên đề nghị HĐXX chấp nhận tiền sửa chữa xe mô tô là 8.350.000đ.
  • - Về đề nghị không áp dụng tình tiết khắc phục hậu quả điểm b khoản 1 Điều 51 BLH của đại diện bị hại: Bị cáo H đã bồi thường cho bị hại P 10.000.000đ, bị hại Như 7.000.000đ và do việc thoả thuận bồi thường chưa thành công nên bị cáo H đã nộp 100 triệu vào Phòng THA để bồi thường cho các bị hại. Do đó, VKS đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện bồi thường thiệt hại là đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS và điểm d, mục 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao
  • - Về tình tiết không cấp cứu nạn nhân: Mặc dù sau khi xảy ra tai nạn bị cáo H không nhiệt tình hỏi han, không trực tiếp đưa hai nạn nhân đi cấp cứu nhưng bị cáo H đã gọi điện cho bố chồng và chồng của bị cáo đến hỗ trợ đưa nạn nhân đi cấp cứu và giải quyết sự việc. Việc bố chồng và chồng bị cáo H đến hỗ trợ đã được những người làm chứng và đại diện cho các nạn nhân ghi nhận. Vì vậy, đại diện của bị hại đề nghị kết tội bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS (cố ý không cứu giúp người bị nạn) là không có cơ sở. Đại diện VKS khẳng định cáo trạng của VKS truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  • - Về đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung vì không thực nghiệm tình huống: Ngay sau vụ tai nạn xảy ra, ngày 02/5/2025 Phòng C1 đã khám nghiệm hiện trường, ghi nhận lại toàn bộ dấu vết. Đến ngày 27/7/2025, sau khi nhận được hồ sơ của Phòng C1 chuyển đến, CQĐT đã tiến hành xác định lại hiện trường. Nhận thấy dấu vết trên hiện trường đã được ghi nhận rõ, đủ căn cứ để xác định lỗi của vụ tai nạn, không có mâu thuẫn. Do đó, không có căn cứ và không cần thiết phải tiến hành thực nghiệm điều tra theo Điều 204 BLTTHS. Vậy, việc đại diện bị hại đề nghị trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung là không có cơ sở.
  • - Bị hại P có lỗi vi phạm luật an toàn giao thông đường bộ theo điểm b khoản 3 Điều 12 Luật an toàn giao thông đường bộ quy định “người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn” trong các trường hợp sau đây:.... có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường....”. Trên đoạn đường bị hại P đi có biển cảnh báo nguy hiểm (biển giao nhau với đường không ưu tiên) nhưng P không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn. Theo lời khai của các nhân chứng, anh P đi tốc độ 40-50km/h; ông Vũ Trọng H1 đang ngồi trông quán tạp hoá của gia đình ông nên ông chứng kiến vụ tại nạn giao thông giữa xe ô tô và xe mô tô. Xe ô tô rẽ sang đường nhưng không có dấu hiệu dừng lại, xe mô tô bị nạn thì di chuyển với tốc độ khá nhanh không có dấu hiệu lách, giảm tốc độ hay chuyển hướng ngay trước khi va chạm với xe ô tô con. Nên VKS khẳng định anh P vi phạm điểm b, khoản 3 Điều 12 Luật an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Tuy nhiên, vì vi phạm của anh P gây thiệt hại sức khoẻ cho chị N 31% chưa đến mức phải truy cứu TNHS nên anh P chỉ phải chịu xử phạt vi phạm hành chính. Trong vụ án này bị cáo H và bị hại P cùng có lỗi, xét các yếu tố gây ra lỗi và mức độ lỗi, VKS đề nghị HĐXX xác định lỗi 70% đối với H, 30% đối với P là phù hợp.

Từ những phân tích trên, đại diện VKS thực hiện quyền công tố giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX bác bỏ quan điểm của đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội như nội dung VKS đã truy tố và đề nghị tại phiên toà hôm nay, đề nghị HĐXX xem xét và quyêt định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên mong HĐXX cho bị cáo mức án thấp nhất có thể để bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; VKSND khu vực 6- Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của BLTTHS. Quá trình điều tra bị cáo, đại diện bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của VKS. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02/5/2025 tại Km 293+200 QL1A thuộc địa phận phường Q, tỉnh Thanh Hóa, Trần Thị H (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô BKS: 36K - 133.68 chuyển hướng khi có xe đi ngược chiều không đảm bảo an toàn, nên va chạm vào xe mô tô 18BA-062.94 do anh Nguyễn Hải P điều khiển chở theo sau chị Vũ Hà Tố N đang đi ngược chiều dẫn đến hậu quả anh Nguyễn Hải P và chị Vũ Hà Tố N bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 80%.

Hành vi của bị cáo Trần Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt được quy định xử lý tại điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS.

[3] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô di chuyển hướng khi có xe đi ngược chiều không đảm bảo an toàn, nên va chạm vào xe mô tô do anh Nguyễn Hải P điều khiển chở theo sau chị Vũ Hà Tố N đang đi ngược chiều. Hậu quả anh P và chị N bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 80%. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội mà còn gây tâm lý hoang mang cho những người tham gia giao thông trên địa bàn và dư luận cho xã hội nói chung. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo bằng mức tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục một phần thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bị cáo bồi thường cho bị hại P số tiền 10.000.000đ, bị hại Như số tiền 7.000.000đ, ngoài ra bị cáo còn nộp số tiền 100.000.000₫ đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6- Thanh Hoá. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS; điểm d, mục 2 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Xét bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, nhân thân tốt. Lỗi để xảy ra hậu quả tai nạn nghiêm trọng là lỗi hỗn hợp. Cả hai bên đều không tuân thủ đúng và đầy đủ các quy tắc tham gia giao thông đường bộ, bị cáo vì thiếu chú ý quan sát chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên xảy ra va chạm với xe mô tô do anh P điều khiển, anh P điều khiển xe mô tô di chuyển đến khu vực ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên, không giảm tốc độ để có thể dừng xe một cách an toàn, vi phạm điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024. HĐXX thấy cần xét mức độ lỗi của cả hai bên để xem xét mức hình phạt đối với bị cáo. Như vậy, trong vụ án này hai bên đều có lỗi, nên HĐXX thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo cải tạo tại địa phương, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi vô ý, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, bị cáo đã chủ động thăm hỏi và trực tiếp bồi thường cho anh P số tiền 10.000.000đ và chị N 7.000.000đ. Chị N yêu cầu chị H bồi thường 295.000.000đ, anh P yêu cầu chị H bồi thường 290.770.799đ tiền chi phí điều trị thuốc men nhưng bị cáo không đồng ý. Tại phiên toà bị cáo chỉ đồng ý những khoản tiền có hoá đơn còn những khoản không có hoá đơn đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

HĐXX thấy: Đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng anh Nguyễn Hải P không có lỗi vì P đang đi trên đường ưu tiên 40-50km/h là tốc độ bình thường pháp luật cho phép. Tuy nhiên, anh P điều khiển xe đến khu vực ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Như vậy, HĐXX đồng ý với quan điểm của đại diện VKS vụ tai nạn xảy ra do lỗi hỗn hợp của bị cáo H và bị hại P. Hành vi của anh Nguyễn Hải P gây hậu quả làm chị Vũ Hà Tố N bị tổn thương cơ thể 31% nên không cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T chuyển hồ sơ tài liệu có liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T để xử phạt theo quy định của pháp luật.

Như vậy, đại diện VKS đề nghị xác định lỗi của bị cáo H 70% và bị hại P 30% là phù hợp nên đề nghị của đại diện VKS được HĐXX chấp nhận.

Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586, 587, 590, 601, Bộ luật Dân sự, khoản 1 Điều 64 BLTTHS và Điều 2, Điều 3, Điều 6, Điều 7 Nghị quyết: 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì bị cáo Trần Thị H phải bồi thường về dân sự (về bồi thường sức khoẻ và thiệt hại tài sản) cho anh P, chị N và ông T3 70% thiệt hại, anh P phải bồi thường cho chị N và ông T3 30% thiệt hại là phù hợp.

[6.1] Đối với yêu cầu bồi thường của anh Nguyễn Hải P.

  • + Tổng chi phí thanh toán ở viện A1: 3.544.300₫
  • + Tổng chi phí thanh toán ở viện E Ninh Bình: 165.900₫
  • + Chi phí thuê xe 115 từ viện 5 lên Việt Đức 1.900.000₫
  • + Tổng chi phí điều trị ở bệnh viện V1 lần 1: 13.711.607₫
  • + Tổng chi phí điều trị ở bệnh viện V1 lần 2: 534.816₫
  • + Tổng chi phí điều trị ở bệnh viện Đa khoa tỉnh N (điều trị+ khám lại 2 lần+ tiền thuốc): 1.514.176₫
  • + Chi phí thuê xe 115 từ V về viện A Nam Định: 2.000.000₫
  • + Chi phí thuê xe viện 1 Nam Định về nhà 400.000₫
  • + Chi phí thuê xe 2 chiều từ Nam Định đi V mổ lần 2: 2.000.000₫
  • + Chi phí mua thuốc và sữa bổ sung phục hồi sức khoẻ: 4.000.000₫
  • + Chi phí hai lần mỗ cho kíp mổ gây mê+ quà cảm ơn khoa 6.000.000₫
  • + Thu nhập bị mất: Tiền lương của bố, mẹ nghỉ chăm sóc con: 35.000.000₫ (bố thu nhập 25.000.000đ/tháng, mẹ 10.000.000đ/tháng).
  • + Phí tổn thất về sức khoẻ, tinh thần sau tai nạn (gồm gây tổn hại, ảnh hưởng đến chức năng thận về lâu dài, ảnh hưởng đến chức năng sinh lý, xương chán nứt không thể liền lại, có nguy cơ gây nhiễm trùng, nhiễm khuẩn vỏ màng não, sẹo dài trên trán gây mất thẩm mỹ ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc sau này của nạn nhân..... Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học tập, đang giai đoạn ôn thi nước rút để tốt nghiệp, thi Đại học nên đạt kết quả không cao trong kỳ thi tới, ảnh hưởng đến tương lai, công việc của nạn nhân sau này, hoặc mất chi phí ôn thi trong vòng 1 năm để chờ thi lại Đại học năm tới: 200.000.000₫
  • + Chi phí khám lại, di lại, theo dõi trong 1 năm các chấn thương về sọ, não, vỡ xương trán, dập thận độ 4: 15.000.000₫
  • + Chi phí làm thẩm mỹ, là vết sẹo dài trên trán: 15.000.000đ.

Tổng cộng anh P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 300.770.799₫.

HĐXX xét thấy: Các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại: Nên chấp nhận các khoản do anh P yêu cầu như sau:

  • + Tổng chi phí thanh toán ở viện A1: 3.544.300đ
  • + Tổng chi phí thanh toán ở viện E Ninh Bình: 165.900₫
  • + Chi phí thuê xe 115 từ viện 5 lên Việt Đức 1.900.000₫
  • + Tổng chi phí điều trị ở bệnh viện V1 lần 1: 13.711.607₫
  • + Tổng chi phí điều trị ở bệnh viện V1 lần 2: 534.816₫
  • + Tổng chi phí điều trị ở bệnh viện Đa khoa tỉnh N (điều trị+ khám lại 2 lần+ tiền thuốc): 1.514.176₫
  • + Chi phí thuê xe 115 từ V về viện A Nam Định: 2.000.000₫
  • + Chi phí thuê xe viện 1 Nam Định về nhà 400.000₫
  • + Chi phí thuê xe 2 chiều từ Nam Định đi V mổ lần 2: 2.000.000₫
  • + Chi phí mua thuốc và sữa bổ sung phục hồi sức khoẻ: 4.000.000₫
  • + Anh P yêu cầu tiền thu nhập bị mất: Tiền lương của bố, mẹ nghỉ chăm sóc con: 35.000.000₫ (bố thu nhập 25.000.000đ/tháng, mẹ 10.000.000đ/tháng). Xét thấy, việc bố mẹ phải dành thời gian để chăm sóc con khi bị tại nạn là tình cảm của bố mẹ dành cho con. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật chỉ được tính một người thường xuyên chăm sóc người bị nạn. Tại phiên toà ông T3 cho rằng ông làm nghề lái xe lương thu nhập mỗi tháng từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hải T3 và vợ là bà Nguyễn Thị Thu C không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh việc mất thu nhập của mình, nên khoản tiền chi phí lợp lý về mất thu nhập của người chăm sóc người bị thiệt hại được HĐXX tính trung bình theo mức lao động phổ thông trên địa bàn là 300.000đ/ ngày. Anh P bị thương tật 49%, thời gian nằm viện và thời gian chăm sóc phục hồi sức khoẻ tại nhà nên chấp nhận cho anh P 4 tháng công người chăm sóc: 9.000.000₫ x 4 tháng= 36.000.000₫ là phù hợp.
  • + Anh P đề nghị phí tổn thất về sức khoẻ, tinh thần sau tai nạn 200.000.000₫. HĐXX thấy: Về khoản tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho anh P là 49% ngoài tiền chi phí thuốc men như đã cung cấp của gia đình người bị nạn phải chi phí những khoản tiền cần thiết để phục hồi sức khoẻ từ khi xảy ta tai nạn đến khi phục hồi sức khoẻ. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường một khoản tiền chi phí để phục hồi sức khoẻ cho người bị nạn là 35 tháng lương cơ sở: 2.340.000₫ x 35 tháng = 81.900.000đ.

Tổng cộng: 147.670.799đ, nên buộc bị cáo H phải bồi thường cho bị hại P 70% thiệt hại, và anh P tự chịu trách nhiệm về thiệt hại của mình là 30%. Như vậy, bị cáo H phải bồi thường cho bị cáo P số tiền 147.670.799₫ x 70%= 103.369.559₫ (một trăm linh ba triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng).

  • - Khoản không chấp nhận: Khoản Chi phí hai lần mỗ cho kíp mổ gây mê + quà cảm ơn khoa 6.000.000đ. Vì đây là số tiền gia đình anh P tự nguyện bồi dưỡng nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu này của anh P.
  • - Đối với khoản: Chi phí khám lại, di lại, theo dõi trong 1 năm các chấn thương về sọ, não, vỡ xương trán, dập thận độ 4: 15.000.000đ và chi phí làm thẩm mỹ, là vết sẹo dài trên trán: 15.000.000đ. HĐXX thấy, hai khoản nêu trên anh P chưa khám, chưa làm thẩm mỹ nên dành quyền dân sự cho anh P khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị Quyết số 02/2022NQ-HĐTP ngày 06/9/2022.

[6.2] Đối với yêu cầu bồi thường của đại diện gia đình chị Vũ Hà Tố N:

  • + Giường bệnh viện 2 lần: 3.200.000₫
  • + Viện phí- viện 5: 4.910.108₫
  • + Viện phí- Viện ACA: 2.155.000₫
  • + Thuốc đợt 1 ngoài BHYT: 7.065.450₫
  • + Thuốc xuất viện ngoài BHYT: 2.748.499₫
  • + Thuốc giảm đau sau mổ ngoài BHYT: 1.000.000₫
  • + Thuốc dùng tỏng mổ (ngoài BHYT) 189.000₫
  • + Chi phí mổ cuối rút đinh dự kiến: 20.000.000₫
  • + Chi phí tập vật lý trị liệu: 10.000.000d
  • + Chi phí thẩm mỹ, làm mờ sẹo: 50.000.000₫
  • + Mua bông bang, cồn đỏ, thuốc trị sẹo: 756.000₫
  • + Chi phí bồi dưỡng kíp mổ, gây mê, quà cảm ơn: 9.000.000₫
  • + Chi phí gọi bác sỹ về tháo bột, cắt chỉ, thay băng: 500.000₫
  • + Thuê xe cứu thương 115 từ viện A1 về viện 5: 1.300.000₫
  • + Chi phí ăn uống ở viện các đợt mỗi ngày 200.000 đồng: 6.000.000₫
  • + Chi phí đi lại xăng xe vé gửi xe qua đêm, thuê xe ô tô chở nạn nhân đi lại viện vào ra, kiểm tra tái khám: 5.000.000₫
  • + Tiền thuê xe từ nhà vào Thanh Hoá giải quyết 3 lần: 3.000.000₫
  • + Tiền thuê xe từ nhà đi V Bộ C2 giám định: 1.800.000đ.
  • + Mua bỉm giấy (tháng đầu không tự đi vệ sinh): 1.200.000₫
  • + Chi phí sữa và dinh dưỡng phục hồi sức khoẻ: 16.000.000₫
  • + Mất thu nhập của mẹ 2 tháng nghỉ chăm sóc con: 32.000.000₫
  • + Mất thu nhập của bố 1 tháng (nghỉ đưa đón con đi học, đi thi và chăm sóc tại viện): 15.000.000₫
  • + Mất thu nhập của nạn nhân không đi làm thời vụ được năm ngoái làm công ty nến: 8.000.000₫
  • + Tổn thất sức khoẻ, tinh thần, ảnh hưởng tương lai: 100.000.000₫

Tổng cộng: 302.354.057đ. Tại phiên toà chị L đề nghị bồi thường số tiền 263.696.837 đồng.

HĐXX chấp nhận các khoản do đại diện gia đình chị N yêu cầu có hoá đơn như sau:

  • + Giường bệnh viện 2 lần: 3.200.000₫
  • + Viện phí- viện 5: 4.910.108₫
  • + Viện phí- Viện ACA: 2.155.000₫
  • + Thuốc đợt 1 ngoài BHYT: 7.065.450₫
  • + Thuốc xuất viện ngoài BHYT: 2.748.499₫
  • + Thuốc giảm đau sau mổ ngoài BHYT: 1.000.000₫
  • + Thuốc dùng trong mổ (ngoài BHYT) 189.000₫
  • + Chi phí tập vật lý trị liệu: 10.000.000d
  • + Mua bông bang, cồn đỏ, thuốc trị sẹo: 756.000₫
  • + Chi phí gọi bác sỹ về tháo bột, cắt chỉ, thay băng: 500.000₫
  • + Thuê xe cứu thương 115 từ viện A1 về viện 5: 1.300.000₫
  • + Mua bỉm giấy (tháng đầu không tự đi vệ sinh): 1.200.000₫
  • + Chi phí sữa và dinh dưỡng phục hồi sức khoẻ: 16.000.000₫
  • + Mất thu nhập của mẹ 2 tháng nghỉ chăm sóc con: 32.000.000đ. HĐXX chỉ chấp nhận 1,5 tháng mất thu nhập của mẹ chăm sóc. Lương thu nhập của chị 16.000.000đ nên chấp nhận 24.000.000đ là phù hợp.
  • + Tổn thất sức khoẻ, tinh thần, ảnh hưởng tương lai 100.000.000₫. HĐXX thấy chấp nhận 28 tháng lương cơ bản là phù hợp 2.340.000₫ x 28 tháng = 65.520.000 đ.
  • + Chi phí đi lại xăng xe vé gửi xe qua đêm, thuê xe ô tô chở nạn nhân đi lại viện vào ra, kiểm tra tái khám: 5.000.000đ. chấp nhận 5.000.000₫
  • + Tiền thuê xe từ nhà đi V Bộ C2 giám định: 1.800.000₫.
  • + Chi phí tiền điều trị sẹo lồi và bọc răng sứ: 13.342.780₫

Tổng cộng: 160.686.837 đồng. HĐXX thấy chị N gặp nạn do lỗi hỗn hợp (xác định H bồi thường 70% thiệt hại Phong 30% thiệt hại) nên H và anh P phải liên đới bồi thường cho chị N là 160.686.837₫.

H phải bồi thường cho chị N số tiền(160.686.837₫ x70%) = 112. 480.786₫

P phải bồi thường cho Như số tiền (160.686.837₫ x30%) = 48.206.000₫

- Không chấp nhận các khoản sau:

  • Yêu cầu bồi thường Chi phí bồi dưỡng kíp mổ, gây mê, quà cảm ơn: 9.000.000đ. Đây là số tiền tự nguyện của gia đình chị nên HĐXX không chấp nhận bị cáo bồi thường.
  • + Chi phí ăn uống ở viện các đợt mỗi ngày 200.000 đồng: 6.000.000đ. Chi phí này là nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của mỗi người nếu không có tai nạn xảy ra gia đình chị vẫn phải chi phí cho ăn uống, sinh hoạt hàng ngày nên không chấp nhận.
  • + Tiền thuê xe từ nhà vào Thanh Hoá giải quyết 3 lần: 3.000.000₫
  • + Mất thu nhập của bố 1 tháng (nghỉ đưa đón con đi học, đi thi và chăm sóc tại viện): 15.000.000₫
  • + Mất thu nhập của nạn nhân không đi làm thời vụ được năm ngoái làm công ty nến: 8.000.000₫
  • - Đối với các khoản: Chi phí mổ cuối rút đinh dự kiến: 20.000.000đ. HĐXX thấy, vì chưa thực hiện rút đinh nên chưa có hoá đơn vì vậy dành quyền dân sự cho chị N khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị Quyết số 02/2022NQ-HĐTP ngày 06/9/2022.

[6.3] Về bồi thường thiệt hại tài sản: Xét yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải T3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 11.350.0000đ tiền sửa chữa xe mô tô. Ông T3 cho rằng Hội đồng định giá 8.350.000₫ là còn thiếu, vì xe ông có hỏng vành xe không đi được nên ông sửa thêm hết 2.000.000₫ nên tổng số tiền ông yêu cầu bị cáo H bồi thường là 11.35.000đ. Bị cáo H yêu cầu anh P phải bồi thường chi phí sửa chữa xe là: 20.624.078đ. HĐXX thấy, đây là khoản tiền thiệt hại về tài sản thực tế do bị cáo Trần Thị H, và anh P gây ra. Vì vậy, hai bên phải liên đới bồi thường là có cơ sở, nên HĐXX căn cứ Điều 589 BLDS chấp nhận yêu cầu này của bị cáo H và một phần yêu cầu ông Nguyễn Hải T3. HĐXX căn cứ vào kết quả Hội đồng định giá tài sản thiệt hại của xe mô tô BKS 18BA-062.94 là 8.350.000₫ để buộc H và anh P bồi thường cho ông T3. Vì xác định lỗi bị cáo H 70%, anh P 30%. Nên buộc bị cáo H phải bồi thường cho ông T3 là( 8.350.000₫ x70%) là 5.845.000₫ và anh P phải bồi thường cho ông T3 là (8.350.000₫ x 30%) là: 2.783.000đ; P bồi thường cho bị cáo H( 20.624.078₫ x 30%) là 6.187.000đ. Số tiền còn lại 70% tiền sửa chữa xe ô tô của H, H tự chịu trách nhiệm đối với số tiền sửa chữa xe của mình.

Như vậy, sau khi đối trừ cho nhau các khoản bồi thường thiệt hại (về sức khoẻ và về tài sản) các bên phải bồi thường như sau:

  • - Bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hải P là: 103.369.559 đ - 10.000.000đ (đã bồi thường trước) và 50.000.000đ (nộp tại Phòng Thi hành án) - 6.187.000đ (tiền chi phí sửa xe ô tô anh P bồi thường cho H). Vậy, bị cáo H phải bồi thường cho bị cáo P số tiền là: 37.182.559 đồng.
  • - Bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho chị Vũ Hà Tố N là: 112. 480.786₫ - 7.000.000đ (đã bồi thường trước) - 50.000.000₫ (nộp tại Phòng Thi hành án). Như vậy, H còn phải bồi thường cho Như số tiền 55.480.768 đồng.
  • - Bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho ông Nguyễn Hải T3 số tiền 5.845.000₫
  • - Anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho chị Vũ Hà Tố N là: 48.206.000₫
  • - Anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho ông Nguyễn Hải T3 là: 2.783.000đ.

[7] Xét về tranh luận của đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan với VKS về lỗi giao thông, tình tiết giảm nhẹ, chi phí sửa chữa xe mô tô, đề nghị truy tố khoản 2 Điều 260 BLHS và đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung là không có cơ sở nên HĐXX không chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Thị H.

[9] Án phí HS và án phí DSST:

  • - Buộc bị cáo Trần Thị H phải nộp 200.000đ án phí HSST
  • - Buộc bị cáo Trần Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm: 37.182.559 đồng + 55.480.768đ + 5.845.000đ=98.508.327đ x 5%= 4.925.416đ.
  • - Buộc anh Nguyễn Hải P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm: 48.206.000₫ + 2.783.000₫= 50.989.000 đ x5%= 2.549.450đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ:
    • - Điểm c khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;
    • - Điều 584, 585, 586, khoản 1 Điều 589, 590, 600, 601 Bộ luật Dân sự
    • - Khoản 1 Điều 64, Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
    • - Điều 2, Điều 3, Điều 6, Điều 7 Nghị quyết: 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
    • - Điều 21, Điều 23, khoản 1 Điều I, điểm b, mục 1.3 khoản 1 Điều II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
  3. Xử phạt: Trần Thị H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/12/2025).

Giao bị cáo Trần Thị H cho UBND xã H, tỉnh Thanh Hoá giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  1. Trách nhiệm dân sự:
    • 4.1. Buộc bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Hải P số tiền 37.182.559 đồng (ba mươi bảy triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, năm trăm năm mươi chín đồng).
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Thị H đã bồi thường thêm cho anh Nguyễn Hải P số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6-Thanh Hoá theo biên lai thu số:0000520 ngày 27/10/2025.
    • 4.2. Buộc bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho bị hại Vũ Hà Tố N số tiền 55.480.768 đồng (năm mươi lăm triệu, bốn trăm tám mươi nghìn, bảy trăm sáu mươi tám đồng)
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Thị H đã bồi thường thêm cho chị Vũ Hà Tố N số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6-Thanh Hoá theo biên lai thu số:0000520 ngày 27/10/2025.
    • 4.3. Bị cáo Trần Thị H phải bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải T3 là 5.845.000đ (năm triệu, tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
    • 4.4. Buộc anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho chị Vũ Hà Tố N số tiền: 48.206.000đ (bốn mươi tám triệu, hai trăm lẻ sáu nghìn đồng).
    • 4.5. Buộc anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải T3 là: 2.783.000₫ (hai triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng).
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Nguyễn Hải P, chị Vũ Hà Tố N, ông Nguyễn Hải T3 có đơn yêu cầu Thi hành án, nếu bị cáo H, anh P không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng bị cáo H và anh P còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
  2. Quyền dân sự:
    • 5.1. Dành quyền dân sự cho anh Nguyễn Hải P khởi kiện trong vụ án dân sự khác đối với các khoản chi phí khám lại, di lại, theo dõi trong 1 năm các chấn thương về sọ, não, vỡ xương trán, dập thận độ 4: 15.000.000đ; Chi phí làm thẩm mỹ, là vết sẹo dài trên trán: 15.000.000đ.
    • 5.2. Dành quyền dân sự cho chị Vũ Hà Tố N khởi kiện trong vụ án khác đối với khoản chi phí mổ cuối rút đinh dự kiến: 20.000.000₫.
  3. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Thị H 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số 381212009620, do Sở G cấp ngày 30/6/2021 (trả lại tại Tòa án).
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Án phí DSST: Bị cáo Trần Thị H phải nộp 4.925.416 đ (bốn triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn, bốn trăm mười sáu đồng)

Anh Nguyễn Hải P phải nộp: 2.549.450đ (hai triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi đồng).

  1. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, anh P (vừa là bị hại vừa là bị đơn dân sự), người đại diện theo uỷ quyền của anh P, chị N, người đại diện theo pháp luật của chị N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T3.

Bị cáo, bị hại/đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn dân sự có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải T3 được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/12/2025).

Bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a, 7b và 9 luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 6;
  • - VKS nhân dân tỉnh T;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQĐT công an tỉnh T;
  • - CQ Thi hành án hình sự,
  • - THA Dân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TỐNG THỊ HÀ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6- THANH HOÁ

Sè:01/2025/TB- TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Thanh Hoá, ngày 06 tháng 01 năm 2025

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2025/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6- Thanh Hóa có lỗi do tính toán sai cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung:

  • - Tại dòng thứ 09 từ dưới lên, trang 05 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “2.783.000₫"
    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
    "2.505.000₫"
  • - Tại dòng thứ 05 từ dưới lên, trang 13 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “ (8.350.000₫ x 30% là 2.783.000₫"
    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
    "(8.350.000₫ x 30%) là 2.505.000₫"
  • - Tại dòng thứ 12 từ trên xuống, trang 14 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
    “ Anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho ông Nguyễn Hải T3 là 2.783.000₫"
    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
    “ Anh Nguyễn Hải P phải bồi thường cho ông Nguyễn Hải T3 là 2.505.000₫"
  • - Tại dòng thứ 16 từ dưới lên, trang 14 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
    “48.206.000đ + 2.783.000đ= 50.989.000₫ x 5%= 2.549.450₫"
    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
    “48.206.000đ + 2.505.000đ=50.711.000₫ x 5% = 2.535.550₫"
  • - Tại dòng thứ 12 từ dưới lên, trang 15 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
    “ ông Nguyễn Hải T3 là 2.783.000đ (hai triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng)
    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
    “ ông Nguyễn Hải T3 là 2.505.000đ (hai triệu, năm trăm linh năm nghìn đồng)
  • - Tại dòng thứ 10 từ trên xuống, trang 16 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
    “Anh Nguyễn Hải P phải nộp: 2.549.450đ (hai triệu, năm trăm bốn mươi chín nghìn, bốn trăm năm mươi đồng).
    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
    “Anh Nguyễn Hải P phải nộp 2.535.550đ (hai triệu, năm trăm ba mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi đồng).

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 6;
  • - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQĐT công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQ Thi hành án hình sự,
  • - THA Dân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TỐNG THỊ HÀ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS- ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 43/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Điểm c khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; - Điều 584, 585, 586, khoản 1 Điều 589, 590, 600, 601 Bộ luật Dân sự - Khoản 1 Điều 64, Điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự - Điều 2, Điều 3, Điều 6, Điều 7 Nghị quyết: 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao - Điều 21, Điều 23, khoản 1 Điều I, điểm b, mục 1.3 khoản 1 Điều II Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; 2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" 3. Xử phạt: Trần Thị H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/12/2025).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger