Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 29/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ánh Hồng, Ông Ngô Quang Hậu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường Sơn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 13-Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Công T, sinh ngày 08/10/1986 (tên gọi khác không); Nơi cư trú: xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 08/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.

    Căn cước công dân số: 017086007730, cấp ngày 13/4/2021; nơi cấp cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.

    Con ông Hoàng Công T1, sinh năm 1964 (đã chết), con bà Bạch Thị N, sinh năm 1962; vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1987 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025 đến ngày 15/9/2025.

    Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  2. Hoàng Thị H, sinh ngày 17/01/1987 (tên gọi khác không); Nơi cư trú: xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;

    Căn cước công dân số: 017187012367, cấp ngày 09/8/2021; nơi cấp cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.

    Con ông Hoàng Công B, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Hoàng Thị X, sinh năm 1965; chồng là: Hoàng Công T, sinh năm 1986 và 03 con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025 đến ngày 15/9/2025. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Thị Đ, (tên gọi khác không), sinh ngày 01/01/1970, tại P, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.

    Căn cước công dân số: 001170049116, cấp ngày 26/8/2022; nơi cấp cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.

    Con ông không xác định được; con bà Nguyễn Thị D (đã chết); chồng: Bùi Văn K, sinh năm 1967 (đã chết) và 05 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025, chuyển tạm giam từ ngày 15/9/2025 đến ngày 18/11/2025 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  4. Bùi Văn T2, (tên gọi khác không) sinh ngày 11/02/1993, tại xã L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 05/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.

    Căn cước công dân số: 01709310781, cấp ngày 11/4/2024; nơi cấp cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.

    Con ông Bùi Văn K, sinh năm 1967 (đã chết), con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970; vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025, chuyển tạm giam từ ngày 15/9/2025 đến ngày 04/11/2025 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  5. Bùi Thị N1, (tên gọi khác không) sinh ngày 07/8/2000, tại xã L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.

    Căn cước công dân số: 017300005743, cấp ngày 23/01/2025; nơi cấp cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.

    Con ông Bùi Văn K1, sinh năm 1972, con bà Bùi Thị V, sinh năm 1970; chồng: không có; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 25/12/2025; tiền án: không; tiền sự: không. Bị tạm giữ, tạm giam không, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  6. Nguyễn Viết N2, (tên gọi khác không) sinh ngày 13/4/1988, tại xã M, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: thôn T, xã M, thành phố Hải Phòng.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.

    Căn cước công dân số: 030088008761, cấp ngày 11/8/2021; nơi cấp cục cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C.

    Con ông Nguyễn Viết H2, sinh năm 1955 (đã chết), con bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1956; vợ: Đỗ Thị Hồng S, sinh năm 1989 và 06 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không.

    Nhân thân: năm 2011, bị Công an huyện C, tỉnh Hải Dương (cũ) ra quyết định xử phạt hành chính về hành đánh bạc.

    Bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025, đến ngày 15/9/2025 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2: ông Nguyễn Văn T3 - Luật sư thuộc văn phòng L, đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Hoàng Thị X, sinh năm 1965; trú tại: xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/9/2025, Hoàng Thị H, Hoàng Công T, cùng trú tại: xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Viết N2, trú tại: thôn T, xã M, thành phố Hải Phòng; Bùi Thị N1, Bùi Văn T2, Nguyễn Thị Đ, trú tại: xóm Q, xã L, tỉnh Phú Thọ, tổ chức bốc phường tại căn lều nhà bà Hoàng Thị X (căn lều hiện do chị Hoàng Thị H và anh Hoàng Công T sinh sống). Sau khi bốc phường xong, các đối tượng ngồi ăn kẹo, uốc nước, nói chuyện đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Viết N2, Bùi Thị N1, Bùi Văn T2, Nguyễn Thị Đ, Hoàng Công T, Hoàng Thị H cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình thức đánh liêng, các bị can sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) lá bài, mỗi ván người chơi được chia 03 lá bài, kèm theo đó mỗi người phải góp 10.000đ (mười nghìn) đồng, đặt dưới chiếu là tiền “gà”, sau đó mỗi người chơi lên bài của mình rồi bỏ thêm tiền vào để chơi tiếp ván đó hoặc bỏ bài không thêm tiền, người thắng cuối cùng sẽ được hết số tiền.

Các bị cáo đánh bạc liên tục đến 00 giờ 10 phút ngày 07/9/2025 thì bị Công an xã L, tỉnh Phú Thọ kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 7.370.000đ (Bảy triệu, ba trăm, bảy mươi nghìn) đồng; 52 (năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ; 01 chiếu nhựa màu xanh.

Kết quả giám định số 173/TB-KV4, ngày 19/9/2025 của Ngân hàng N3 chi nhánh K3 kết luận số tiền 7.370.000₫ (Bảy triệu, ba trăm, bảy mươi nghìn) đồng là tiền thật do Ngân hàng N3 phát hành.

Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 28/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Viết N2, Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2, Bùi Thị N1 về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng như bản cáo trạng; Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Viết N2, Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Bùi Văn T2, Nguyễn Thị Đ.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết N2 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • + Xử phạt bị cáo Hoàng Công T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • + Hoàng Thị H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • + Xử phạt bị cáo Bùi Văn T2 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị N1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • - Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 7.370.000đ (Bảy triệu, ba trăm, bảy mươi nghìn) đồng.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 52 (năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ; 01 (một) chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng.
  • - Về án phí: đề nghị tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2 đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và cho các bị cáo Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2 được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Viết N2, Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Bùi Văn T2, Nguyễn Thị Đ, Bùi Thị N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo xin được giảm hình phạt và xin được hưởng mức án thấp nhất và xin được hưởng án treo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư bào chữa và ý kiến các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Phú Thọ và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Viết N2, Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2, Bùi Thị Nguyên K2 nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:

Từ khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 06/9/2025 khoảng đến 00 giờ 10 phút, ngày 07/9/2025, tại căn lều do Hoàng Thị H, Hoàng Công T quản lý, sử dụng các bị cáo N2, T, H, Đ, T2, N1 đang thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền thì bị công an xã L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 7.370.000đ (Bảy triệu, ba trăm, bảy mươi nghìn) đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 (năm mươi hai) lá bài và 01 (một) chiếu nhựa.

Xét các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự địa phương, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc đã đủ cấu thành tội phạm “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, Phú Thọ đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • Đối với bị cáo Bùi Thị N1 thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đang có thai là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Đối với bị cáo Hoàng Công T có bố vợ; Hoàng Thị H có bố đẻ là ông Hoàng Công B là thương binh loại A, có tỉ lệ tổn thương cơ thể là 63% được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Viết N2 thời điểm phạm tội có 06 con trong đó lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022 như vậy các con của bị cáo đều dưới 15 tuổi, đây được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Đ hiện đang phải điều trị bệnh ung thư tại bệnh viện K4; bị cáo Bùi Văn T2 có nhiều năm đạt danh hiệu gia đình văn hoá được xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Viết N2 là người có nhân thân xấu, năm 2011 bị Công an huyện C, tỉnh Hải Dương (cũ) xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc theo quyết định số 101/QĐ-XPHC, ngày 04/8/2011, đã thực hiện xong việc nộp phạt ngày 08/8/2011.
  • - Về vai trò và mức hình phạt đối với các bị cáo: trong vụ án các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, thống nhất, phân công từ trước do vậy hành vi đánh bạc của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Viết N2 là người có nhân thân xấu; bị cáo Hoàng Công T, Hoàng Thị H là người cho sử dụng địa điểm mà mình đang quản lý, sử dụng để đánh bạc và cùng thực hiện việc đánh bạc, do vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác. Đối với các bị cáo khác phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đã gây ra cho xã hội.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng do vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, điều kiện kinh tế bản thân và gia đình còn nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền với các bị cáo.

[6] Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý cụ thể như sau:

  • - Đối với số tiền 7.370.000đ (Bảy triệu, ba trăm, bảy mươi nghìn) đồng, thu giữ trên chiếu bạc là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần được tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 52 (Năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ, 01 (một) chiếu nhựa đã qua sử dụng là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Vế án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Đối với bà Hoàng Thị X là chủ căn lều nơi các bị cáo đánh bạc, từ khoảng tháng 10 năm 2024 bà X đã giao căn lều cho cho Hoàng Thị H là con gái quản lý, sử dụng để chăn nuôi gia cầm. Việc các bị cáo đánh bạc tại căn lều bà X không biết, không được hưởng lợi gì do vậy không có căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với bà Hoàng Thị X.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Nguyễn Viết N2, Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2, Bùi Thị N1 phạm tội: “Đánh bạc”.
    • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết N2 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Công T 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T2 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, n, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 60 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị N1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao các bị cáo Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2, Bùi Thị N1 cho Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Giao bị cáo Nguyễn Viết N2 cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 7.370.000₫ (Ba triệu, ba trăm, bảy mươi nghìn) đồng. Tại ngân hàng TMCP N4 - Chi nhánh H3 theo giấy nộp tiền ngày 05/12/2025, số CT-D: 051225.0002.000033.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 (Năm mươi hai) lá và 01 (một) Chiếu nhựa màu xanh sử dụng vào việc đánh bạc.

    Đặc điểm vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13, tỉnh Phú Thọ ngày 09/12/2025.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

    Buộc các bị cáo Hoàng Công T, Hoàng Thị H, Nguyễn Viết N2, Nguyễn Thị Đ, Bùi Văn T2, Bùi Thị N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ người nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quang Hậu

Trần Ánh Hồng

Vũ Văn Trung

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 13, tỉnh Phú Thọ;
  • - CQĐT, CQTHAHS tỉnh Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các Bị cáo;
  • - UBND xã Liên Sơn;
  • - UBND xã Mao Điền, Tp Hải Phòng;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hoàng Công T cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger