Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 423/2025/DS-ST

Ngày 26 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng.

Ông Bùi Xuân Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 334/2025/TLST-DS ngày 26/5/2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 491/2025/QĐXXST-DS ngày 18/11/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1983. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 09/8/2021.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1979. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 09/8/2021.

Ông Trần Văn C1, sinh năm 1980. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 09/8/2021.

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Thái Thị C2, sinh năm 1954. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 12/8/2021.

Địa chỉ: Ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bà C2: Bà Lê Thị C, sinh năm 1983 – Là người đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 17/6/2025).

Địa chỉ: Ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau.

Ông Trần Văn H, sinh năm 1950. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 28/6/2021.

Bà Trần Kim P, sinh năm 1952. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 09/8/2021.

Ông Lê Văn L, sinh năm 1975.

Bà Lê Hồng T1, sinh năm 1977.

Anh Trần Thanh H1, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau.

Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau.

Ông Lê Văn Q, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, tỉnh Cà Mau.

Ngân hàng TMCP C4 (Gọi tắt là Ngân hàng).

Địa chỉ trụ sở: Số A, T, phường H, thành phố Hà Nội.

Cơ quan đại diện: Ngân hàng TMCP C4 – Chi nhánh C5.

Địa chỉ trụ sở: Số I L, phường T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Đình Đáp C3, sinh năm 1970 – Là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền số: 406/UQ-CNCM-TH ngày 11/8/2025).

Địa chỉ: Số I L, phường T, tỉnh Cà Mau.

Bà C, bà T, ông C1, ông H, ông L, ông Q, bà T1 và ông H1 có mặt. Ngân hàng có đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự khác vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2025, lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, thể hiện:

Nguồn gốc đất tranh chấp vào năm 2014 bà C nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn H diện tích đất theo đo đạc thực tế có diện tích 1.112,1 m² – tại thửa số 1 theo bản trích đo diện trạng – đất toạ lạc tại ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau, với giá 1,6 lượng vàng 24k, việc chuyển nhượng có lập giấy tay tại “Tờ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động ngày 19/01/2014” – được ký kết giữa cá nhân bà C với ông H”. Việc chuyển nhượng bà C đã giao đủ vàng cho ông H nhận và đã nhận đủ toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế.

Năm 2014 bà C nhận đất xong và lại giao cho cha là Lê Văn V (chết năm 2020) quản lý và sử dụng trồng cây ăn trái, các loại cây trồng khác. Năm 2020 cha ông Việt chết thì chôn cất ở phần đất chuyển nhượng của ông H, đến năm 2021 bà C mới kêu mẹ là bà C2 về xây cất nhà trên đất (với mục đích để cho mẹ ở gần mã mồ của cha), chứ cho đất thì không có cho.

Năm 2021 bà C2 nhờ vợ chồng bà T và ông C1 đứng ra kêu thầu xây cất nhà (tổng giá trị nhà 230.000.000 đồng – nhà xây dựng xong năm 2021), bà C2 đưa cho cho vợ chồng bà T và ông C1 329.400.000 đồng và 6,4 chỉ vàng 24k để xây cất nhà (số vàng 6,4 chỉ 24k là tiền chế độ của ông V). Trong tổng giá trị căn nhà hiện nay bà C xác định không có tiền hùn của vợ chồng bà T và ông C1. Nhà xây dựng xong năm 2021. Tiền của bà C2 là do bà C giữ và chính bà C cũng là người trực tiếp đưa cho mẹ (nhưng không có giấy tờ gì chứng minh). Việc bà C2 giao tiền và vàng cho vợ chồng bà T và ông C1 thì không có ai chứng kiến và cũng không giấy tờ gì, nhưng có các anh chị em đều biết.

Thời điểm năm 2021 thì vợ chồng bà T và ông C1 quản lý toàn bộ khu đất và ở chung nhà với mẹ, cũng trong năm 2021 bà C2 về ở chung với ông Lê Văn Q, còn nhà và đất thì vợ chồng bà T và ông C1 quản lý toàn bộ và sử dụng cho đến nay. Bà C có yêu cầu vợ chồng bà T và ông C1 trả đất nhưng không thực hiện, nên phát sinh tranh chấp, sự việc đã được hoà giải của Uỷ ban nhân dân (UBND) xã K nhưng không thành.

Ông Thái Hoàng  cũng như những người làm chứng khác đều không có mâu thuẫn gì với bà C và bà C2.

Nay bà C yêu cầu Toà án:

  • + Buộc vợ chồng bà T và ông C1 phải trả lại cho bà C diện tích đất theo đo đạc thực tế 1.112,1 m².
  • + Trường hợp giả sử đất tranh chấp Toà án xác định của cha mẹ thì đồng ý giao toàn quyền cho bà C2 quyết định.
  • + Trường hợp Toà án buộc giao nhà lại cho bà C2, thì bà C thống nhất để cho căn nhà tồn tại trên đất.
  • + Trường hợp Toà án xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (HĐCNQSDĐ) giữa bà C với ông H là vô hiệu thì bà C không yêu cầu xử lý hậu quả pháp lý trong vụ án này, nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu sau.
  • + Toàn bộ tiền chi phí tố tụng 21.012.000 đồng (Trong đó, chi phí đo đạc 10.692.000 đồng, chi phí thẩm định giá 9.720.000 đồng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000 đồng) đã nộp và thực hiện xong, yêu cầu buộc vợ chồng bà T và ông C1 phải có nghĩa vụ hoàn lại.

- Theo đơn phản tố ngày 23/7/2025, lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, thể hiện:

Nguồn gốc đất tranh chấp của Lê Văn S (chết). Khoảng năm 2013 ông S có yêu cầu ông H sang hết toàn bộ khu đất có tổng diện tích 03 công tầm lớn, nhưng ông H không đủ điều kiện sang, nên mới rủ ông Lê Văn V hùn sang nhượng chung với ông H mỗi người 1,5 công (giữa ông V và ông H là thông gia), nhưng cha mẹ là ông V và bà C2 không đủ điều kiện, nên chỉ đồng ý hùn sang 01 công đất tầm lớn. Sau đó ông V cùng ông H thống nhất sang hết toàn bộ 03 công đất của ông S với giá 01 công tầm lớn bằng 1,6 lượng vàng 24k. Việc chuyển nhượng đất giao vàng 02 lần (cụ thể: Lần thứ nhất cha mẹ giao vàng cho ông S nhận 1,6 lượng vàng 24k tại nhà ông H (thời điểm cha mẹ giao vàng thì có con ông S là vợ chồng ông Lê Văn Đ1 chứng kiến; lần thứ hai là của ông H tự giao). Việc chuyển nhượng thời điểm này có làm giấy tay cho ông H đứng tên toàn bộ phần đất (vì đất ông H sang nhiều hơn), cùng thời điểm ông H làm riêng cho ông V 01 giấy tay đối với 01 công đất (giấy tay này hiện nay đã thất lạc). Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì ông V trực tiếp quản lý và sử dụng 01 công đất từ năm 2013 đến năm 2020 thì chết và chôn cất trên đất cho đến nay.

Năm 2020 mẹ bà C2 mâu thuẫn với bà C, nên mới đặt điều kiện với vợ chồng bà T là kêu vợ chồng bà T đứng ra cất nhà trên đất để ở cùng mẹ và thờ cha, thời điểm này mẹ xác định đất tranh chấp hiện nay là của cha mẹ nhượng của ông S, nên có họp gia đình nội dung vợ chồng bà T về ở với mẹ sau này được hưởng nhà và đất (việc họp gia đình có lập giấy tờ do ông Trần Văn N viết và có đủ tất cả anh chị em và thân tộc).

Năm 2021 vợ chồng bà T đứng ra xây cất nhà thì mẹ đưa ra 200.000.000 đồng và có nhờ ông Thái Hoàng  viết giấy tay xác nhận số tiền cất nhà và đất sau này sẽ cho vợ chồng bà T và yêu cầu vợ chồng bà T hùn thêm tiền để xây dựng nhà. Trong năm 2021 xây dựng nhà xong với tổng số tiền 420.000.000 đồng (Trong đó, vợ chồng bà T bỏ ra 220.000.000 đồng). Từ năm 2021 vợ chồng bà T quản lý sử dụng đất và nhà cho đến nay.

Đối với việc năm 2014 ông H kê khai đăng ký QSDĐ thì gia đình bà T không biết. Thời điểm xây cất nhà thì mẹ cùng vợ chồng bà T có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thì mới biết ông H đã đứng tên toàn bộ phần đất và thế chấp Ngân hàng thông qua hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (HĐTCQSDĐ), nên ông H mới vẽ sơ đồ và kích thước đất cho mẹ và vợ chồng bà T xây cất nhà.

Ông Thái Hoàng  cũng như những người làm chứng khác đều không có mâu thuẫn gì với bà T và ông C1.

Nay bà T và ông C1 có yêu cầu và ý kiến:

  • + Không đồng ý trước toàn bộ yêu cầu của bà C và bà C2. Trường hợp giả sử đất tranh chấp Toà án xác định của cha mẹ thì có yêu cầu được nhận đất và tự nguyện đồng ý có nghĩa vụ giao lại giá trị đất theo phán quyết cuả Toà án.
  • + Công nhận phần đất theo đo đạc thực tế 1.138,1 m² – tại thửa số 1, 2 theo bản trích đo hiện trạng là thuộc QSDĐ hợp pháp của bà T và ông C1.
  • + Yêu cầu tuyên bố HĐCNQSDĐ giữa ông H với bà C là vô hiệu.
  • + Rút lại yêu cầu tuyên bố một phần HĐTCQSDĐ liên quan đến phần đất tranh chấp giữa Ngân hàng với ông H và bà P là vô hiệu (Vì đã giải chấp).

- Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 17/6/2025, lời trình bày của bà C2 và người đại diện hợp pháp có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Nguồn gốc đất là của bà C nhận chuyển nhượng của ông H (đất do ông S nhượng lại cho ông H). Năm 2021 bà C cho bà C2 mượn toàn bộ khu đất để xây cất nhà ở. Trong năm 2021 bà C2 có nhờ vợ chồng bà T đứng ra kêu thầu và đứng ra xây cất nhà dùm bà C2 (cụ thể bà C2 đưa cho vợ chồng bà T tổng số 329.400.000 đồng và 6,4 chỉ vàng 24k để xây cất nhà (việc đưa tài sản thì không có ai chứng kiến và không có làm giấy tờ gì chứng minh, nhưng trước khi đưa và sau khi đưa thì bà C2 có nói các con biết), nhà đã xây cất đã hoàn thành (nhưng giá trị bao nhiêu bà C2 không biết), cũng trong năm 2021 vợ chồng bà T có hành vi ngược đãi đối với bà C2 và đuổi bà đi, hiện nay bà C2 đang ở cùng con là Lê Văn Q. Bà C2 xác định đất là của bà C, căn nhà trên đất là tài sản của cá nhân bà C2 chứ không liên quan đến vợ chồng bà T và ông C1.

Cha mẹ chồng đều đã chết, ông V không có vợ nào khác và cũng không có cha mẹ con nuôi. Bà C2 và ông V có tất cả 05 người con tên Lê Văn L, Lê Thị T2, Lê Thị T, Lê Văn Q, Lê Thị C.

Nay bà C2 yêu cầu Toà án buộc vợ chồng bà T và ông C1 giao trả lại cho bà C2 toàn bộ căn nhà theo hiện trạng thực tế và giao trả số tiền 99.400.000 đồng và 6,4 chỉ vàng 24k.

- Lời trình bày của ông H có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Ông H là thông gia với bà C2. Nguồn gốc đất tranh chấp năm 2014 cá nhân ông nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn S (đã chết), vợ con ông S còn sống, diện tích đất chuyển nhượng 03 công tầm lớn, với giá 3,8 lượng vàng 24k, việc chuyển nhượng lập thủ tục chuyển tên QSDĐ và ông H được cấp GNCNQSDĐ số: BR 628726 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/02/2014 với tổng diện tích 3.864 m² – tại thửa số 592 – tờ bản đồ số 5 cho hộ ông H đứng tên (Hộ gia đình ông H từ năm 2014 cho đến nay gồm có ông H, bà P, ông H1 và bà T2. Cùng năm 2014 ông H chuyển nhượng lại cho bà C phần đất 01 công đất tầm lớn (theo đo đạc thực tế là 1.112,1 m²), với giá 1,6 lượng vàng 24k, việc chuyển nhượng có lập giấy tay “Tờ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động ngày 19/01/2014 – được ký kết giữa cá nhân ông H và bà C”, thời điểm chuyển nhượng cho bà C thì ông H chưa được cấp GNQSDĐ. Việc chuyển nhượng ông H đã nhận đủ vàng và đã giao đủ đất cho bà C nhận.

Về diễn biến quá trình sử dụng đất từ năm 2014 thì bà C giao cho cha là ông V trồng riềng trên đất, đến năm 2020 ông V chết thì chôn cất trên đất. Năm 2021 nội bộ gia đình bà C2 bàn tán như thế nào không biết, nhưng trong năm 2021 thì bà C2 cùng vợ chồng bà T và ông C1 về xây cất nhà trên đất, còn tiền bỏ ra cất nhà của ai cụ thể bao nhiêu thì không biết. Toàn bộ QSDĐ ông H trước đây có thế chấp cho Ngân hàng TMCP C4 để vay tiền, nhưng hiện nay đã giải chấp và nhận lại bản gốc GCNQSDĐ. Trong tổng diện tích đất được cấp theo GCNQSDĐ thì cho đến nay không có cầm cố, thế chấp hay chuyển quyền cho ai khác ngoài bà C. Ông H xác định phần đất tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án không còn liên quan đến quyền lợi của ông H và gia đình, quyền yêu cầu và quyết định là của bà C (vì ông H đã sang nhượng cho bà C, sau này ông sẽ hợp tác với bà C làm thủ tục chuyển tên sau). Sơ đồ bút lục 151 ông H đã được xem tại phiên toà, ông H xác định do ông H viết và vẽ để rõ ràng về vị trí và ranh giới đất.

Ông H không có yêu cầu gì trong vụ án này.

- Lời trình bày của ông Q, bà T2, ông Đ, ông L có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Thống với ý kiến và yêu cầu của bà C. Trường hợp giả sử đất tranh chấp Toà án xác định của cha mẹ thì đồng ý giao toàn quyền cho bà C2 quyết định.

- Lời trình bày của ông H1 có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Thống với ý kiến và yêu cầu của ông H.

- Lời trình bày của người đại diện của Ngân hàng có tại hồ sơ, thể hiện: Ngày 02/12/2025 bà Huỳnh Tuyết D đã không còn nghĩa vụ nợ tương ứng với tài sản thế chấp có hồ sơ pháp lý là GCNQSDĐ số BR 628762 do UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/02/2014, ông H và bà P đã nhận lại tài sản thế chấp.

Nay Ngân hàng không còn liên quan gì đến vụ án và cũng không đặt ra yêu cầu gì trong vụ án.

- Đối với các đương sự và người tham gia tố tụng khác: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và 02 lần để xét xử, nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản đối với yêu cầu của các đương sự trong vụ án.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định. Đối với các đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã không chấp hành đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, về việc yêu cầu vợ chồng bà T và ông C1 giao trả diện tích đất 1.112,1 m²; chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T, công nhận cho bà T và ông C1 được QSĐ đối với phần đất có diện tích 1.138,1 m²; tuyên bố huỷ 01 phần GNCNQSDĐ số: BR 628726 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/02/2014 cho hộ ông H đứng tên liên quan đến phần đất công nhận cho bà T và ông C1; ghi nhận sự tự nguyện của bà T và ông C1 có trách nhiệm và nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà C2 giá trị đất 225.343.800 đồng, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bà T về việc yêu cầu tuyên bố HĐTCQSDĐ vô hiệu; không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà C2, về việc yêu cầu vợ chồng bà T và ông C1 giao trả toàn bộ căn nhà theo hiện trạng thực tế và số tiền 99.400.000 đồng và 6,4 chỉ vàng 24k. Án phí và chi phí tố tụng các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vắng mặt không rõ lý do và có đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227 và điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xét xử vắng mặt họ.

[2] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

[2.1] Nội dung tranh chấp chính giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp QSDĐ và nơi có đối tượng tranh chấp tại xã K, tỉnh Cà Mau, nên Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 9 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm c khoản 1 điều 39 BLTTDS.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập liên quan đến QSDĐ, tài sản trên đất và tài sản khác. Xét thấy các yêu cầu này đã được Toà án xem xét thụ lý đúng trình tự thủ tục theo quy định, nên sẽ được xem xét giải quyết cùng trong vụ án này, mà không cần thiết phải xác định thêm quan hệ pháp luật có tranh chấp tại bản án là phù hợp.

[3] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu, ý kiến và đề nghị của các đương sự, người tham gia tố tụng khác và đại diện Viện kiểm sát:

[3.1] Xét đối với diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế: Bà C xác định nhận chuyển nhượng QSDĐ từ ông H với diện tích 01 công đất tầm lớn và bà T và ông C1 xác định ông V nhận chuyển nhượng QSDĐ từ ông S 01 công đất tầm lớn. Qua xem xét kết quả đo đạc thực tế hiện trạng đất được thể hiện tại thửa số 1, 2 theo bản trích đo hiện trạng thì tổng diện tích là 1.138,1 m², so với diện tích đất chuyển nhượng các bên xác định 01 công tầm lớn (1.296 m²) là vẫn còn thiếu, đồng thời căn cứ vào tài liệu “Sơ đồ - Bút lục số 151” thì diện tích các cạnh thửa đất theo sơ đồ ông H xác định tự vẽ là phù hợp với số liệu các cạnh của các thửa đất 1, 2 theo bản trích đo hiện trạng. Như vậy, có căn cứ xác định tổng diện tích đất tranh chấp là 1.138,1 m² tại các thửa đất 1, 2 theo bản trích đo hiện trạng.

[3.2] Xét yêu cầu đối với căn nhà: Căn nhà xây dựng và hoàn thành vào năm 2021 theo lời trình các bên. Bà C2 cho rằng toàn bộ căn nhà cấp 4 xây dựng trên đất tranh chấp là nhà do bà C2 nhờ vợ chồng bà T và ông C1 kêu thầu xây cất dùm bằng nguồn tiền của bà C2 đưa là 329.400.000 đồng; đối với bà T và ông C1 thì xác định nhà là hùn với bà C2 để xây dựng và phần hùn của bà C2 là 200.000.000 đồng, đồng thời xác định căn nhà bà C2 đã tặng cho vợ chồng bà T và ông C1. Xét thấy:

[3.2.1] Căn nhà theo “Chứng thư thẩm định giá - Bút lục số 118” có giá trị tại thời điểm thẩm định giá là 354.187.350 đồng, bà C2 cho rằng căn nhà xây dựng khi hoàn thành có tổng giá trị bao nhiêu bà C2 không biết, nhưng căn cứ số tiền theo yêu cầu của bà C2 yêu cầu bà T và ông C1 hoàn trả lại 99.400.000 đồng so với số tiền bà C2 xác định đưa cho bà T và ông C1 329.400.000 đồng thì chứng minh được trong tổng giá trị nhà xây dựng là có tiền của vợ chồng bà T và ông C1 hùn vào.

[3.2.2] Qua xem xét nội dung “Tờ xác nhận ngày 02/11/2021 – Bút lục số 153 - 154” và kết hợp với lời khai của những người làm chứng tại các (Bút lục số 161 – 162) thì xác định được “Tờ xác nhận ngày 02/11/2021 – Bút lục số 153 - 154” là do ông Thái Hoàng  viết trên cơ sở ý chí tự nguyện của bà C2 và sau khi lập xong thì bà C2 có ký tên, tờ xác nhận có nội dung số tiền bà C2 bỏ vào xây dựng nhà là 200.000.000 đồng và xác định nhà là thuộc quyền sở hữu của bà T và ông C1 để nuôi bà C2, các người con khác không được thắc mắc bất kỳ vấn đề gì. Do đó, có căn cứ xác định trong tổng giá trị căn nhà đã xây dựng có phần hùn giữa bà C2 với vợ chồng bà T và ông C1, và bà C2 đã thống nhất tặng cho lại cho vợ chồng bà T và ông C1 được toàn quyền sở hữu đối với phần hùn của bà C2 xong.

[3.2.3] Đối với vấn đề nuôi dưỡng bà C2 là điều kiện theo nội dung tờ xác nhận thì không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh vợ chồng bà T và ông C1 ngược đãi không nuôi dưỡng bà C2, cho đến hiện nay bà T và ông C1 cũng thống nhất nhận nuôi dưỡng bà C2, nên thực tế hiện nay bà C2 không sống chung với bà C2 là do ý chí của bà C2, chứ không phải do lỗi cố ý của bà T và ông C1 trong việc không thực hiện điều kiện nuôi dưỡng bà C2.

Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà C2 về việc yêu cầu bà T và ông C1 hoàn trả căn nhà cấp 4 theo hiện trạng đã xây cất trên phần đất tranh chấp là đúng theo quy định Điều 166 Bộ luật dân sự (BLDS).

[3.3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà C và yêu cầu phản tố của bà T đối với phần đất tranh chấp: Các đương sự đều xác định QSDĐ tranh chấp có nguồn gốc của gia đình ông Lê Văn S (đã chết), bà C cho rằng bà nhượng lại từ ông H thể hiện tại “Tờ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động ngày 19/01/2014 – Bút lục số 06”, còn bà T và ông C1 thì xác định QSDĐ do ông V hùn với ông H để sang nhượng lại từ ông S. Xét thấy:

[3.3.1] Căn cứ nội dung “Tờ xác nhận ngày 10/8/2023 – Bút lục số 152” và xem xét lời khai của các người làm chứng tại các (Bút lục số 161 - 163) thì có cơ sở chứng minh được toàn bộ phần đất tranh chấp là do ông V khi còn sống trực tiếp đứng ra sang nhượng, và vấn đề này còn phù hợp với thực tế quá trình sử dụng đất trên cơ sở lời khai của các bên cụ thể toàn bộ phần đất tranh chấp ông V là người trực tiếp quản lý và sử dụng từ năm 2014 cho đến khi qua đời và được chôn cất ngay trên phần đất tranh chấp. Mặt khác, tại phiên toà các ông bà L, T2, Q, C cũng xác định nếu Toà án xác định đất là của cha mẹ thì giao toàn quyền cho bà C2 quyết định, như vậy lời trình bày này thật sự mâu thuẫn với quyền và lợi ích của bà C đối với phần đất đang yêu cầu trong vụ án, đáng lẽ ra nếu sự thật là đất của bà C nhận chuyển nhượng thì bà C phải có ý kiến khác và có sự đồng ý của các anh chị khác. Do đó, có căn cứ xác định giấy tờ sang nhượng tại (Tờ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động ngày 19/01/2014 – Bút lục số 06) do bà C cung cấp được xác lập giữa cá nhân ông H và bà T là giả tạo, nên cần tuyên bố vô hiệu là phù hợp theo quy định tại Điều 124 BLDS.

[3.3.2] Đối với hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, thực tế ông H thừa nhận có nhận vàng chuyển nhượng từ bà C, nhưng bà C xác định không có yêu cầu xem xét giải quyết trong vụ án, nên không có cơ sở để xem xét. Do đó, cần tách ra trường hợp các bên có tranh chấp và yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[3.3.3] Bà T và ông C1 cung cấp “Tờ di chúc ngày 06/01/2022 – Bút lục số 150”, di chúc là do bà C2 lập, nhưng bà C2 còn sống, nên chưa phát sinh hiệu lực. Qua xem xét các tài liệu, chứng khác thì không chứng minh được bà C2 đã tặng cho phần QSDĐ của mình cho bà T và ông C1, nên không có cơ sở để chấp nhận ý kiến của bà T và ông C1 về việc bà C2 đã tặng cho đất.

[3.3.4] Như vậy, toàn bộ phần đất tranh chấp 1.138,1 m² là tài sản chung của ông V và bà C2 trong thời kỳ hôn nhân. Ông V chết năm 2020 không để lại di chúc. Nên di sản của ông V sẽ được chia đều theo quy định của pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của ông V gồm có 06 người (vợ và các con của ông V). Toàn bộ phần đất tranh chấp có tổng giá trị được xác định theo chứng thư thẩm định giá là 245.829.600 đồng (trong đó có ½ được xác định là tài sản của cá nhân bà C2 là 122.914.800 đồng). Di sản của ông V chết để lại có giá trị là 122.914.800 đồng chia thành 06 phần thì mỗi kỷ phần là 20.485.800 đồng, bà T được hưởng 01 kỷ phần.

[3.3.5] Do đã có căn cứ xác định toàn bộ căn nhà có tranh chấp hiện hữu trên đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà T và ông C1, thực tế bà T và ông C1 không có đất ở nào khác, nên để đảm bảo quyền tài sản của bà T và ông C1 đối với căn nhà thì cần xem xét giải quyết giao toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho bà T và ông C1 sử dụng và ghi nhận sự tự nguyện có nghĩa vụ trả lại giá trị cho các đồng thừa kế khác là phù hợp. Các con của bà C2 ngoài chị T đều thống nhất trường hợp đất xác định là của ông V và bà C2 thì đồng ý giao toàn quyền cho bà C2, nên cần ghi nhận nghĩa vụ và trách nhiệm liên đới của bà T và ông C1 hoàn trả lại giá trị đất cho cá nhân bà C2 là đúng.

[3.3.6] Tại phiên toà, bà T tự nguyện rút lại yêu cầu phản tố về việc yêu cầu tuyên bố HĐTCQSDĐ được ký kết giữa Ngân hàng với vợ chồng ông H là vô hiệu. Xét thấy việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, nên căn cứ Điều 244 BLTTDS đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là đúng.

Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà C về việc yêu cầu bà T và ông C1 trả diện tích đất 1.138,1 m² – tại thửa số 1, 2 theo bản trích đo hiện trạng; mà cần chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T và ông C1 công nhận cho bà T và ông C1 được quyền sử dụng toàn bộ phần đất tranh chấp và buộc bà T và ông C1 trả lại giá trị đất cho bà C2 225.343.800 đồng theo quy định tại Điều 236 Luật đất đai (LĐĐ) và tuyên bố “Tờ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động ngày 19/01/2014” là vô hiệu do giả tạo, đình chỉ xét xử yêu cầu tuyên bố HĐTCQSDĐ vô hiệu.

[3.4] Xét yêu cầu độc lập của bà C2 đối với tiền và vàng: Quá trình giải quyết vụ án bà C2 xác định việc đưa tiền và vàng thì không ai chứng kiến và không có lập giấy tờ gì. Quá trình giải quyết vụ án cho đến nay bà C2 cũng không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì, nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà C2 về việc yêu cầu bà T và ông C1 trả 99.400.000 đồng và 6,4 chỉ vàng 24k.

[4] Xét về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của bà C không được chấp nhận, nên bà C phải chịu toàn bộ chi phi tố tụng 21.012.000 đồng (Trong đó, chi phí đo đạc 10.692.000 đồng, chi phí thẩm định giá 9.720.000 đồng, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000 đồng) là đúng theo quy định tại Điều 157 và Điều 165 BLTTDS.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà C phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và yêu cầu phản tố của bà T được chấp nhận là 600.000 đồng; đối với nghĩa vụ của bà T và ông C1 là trên cơ sở tự nguyện và nằm ngoài phạm vi yêu cầu trong vụ án, nên không phải chịu án phí; bà C2 thuộc trường hợp được miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 236). Số tiền tạm ứng án phí của các đương sự đã dự nộp trước được hoàn lại và chuyển thu đối trừ theo quy định.

Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 34, điều 147, điều 157, điều 165, điều 244 BLTTDS; điều 27, điều 236 LĐĐ; điều 166 BLDS; điều 12, điều 24, điều 26 Nghị quyết số 326.

1. Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C. Về việc yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị T và ông Trần Văn C1 giao trả diện tích đất theo đo đạc thực tế 1.112,1 m² – tại thửa đất số 1 theo bản trích đo hiện trạng – đất toạ lạc tại ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau.
  • - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T.
  • + Công nhận cho bà Lê Thị T và ông Trần Văn C1 được quyền sử dụng đối với QSDĐ có diện tích theo đo đạc thực tế 1.138,1 m² - tại thửa đất số 1, 2 theo bản trích đo hiện trạng đất tọa lạc tại ấp R, xã K, tỉnh Cà Mau (Phần đất thuộc thửa đất số: 592 – tờ bản đố số: 5 theo GNCNQSDĐ số: BR 628726 của UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/02/2014 cho hộ ông Trần Văn H).
  • Bà Lê Thị T và ông Trần Văn C1 được thực hiện quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với phần đất được công nhận nêu trên và có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất theo quy định.
  • + Tuyên bố vô hiệu đối với HĐCNQSDĐ được xác lập tại “Tờ hợp đồng chuyển nhượng thành quả lao động ngày 19/01/2014” được ký kết giữa bà Lê Thị C và ông Trần Văn H.
  • + Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị T và ông Trần Văn C1 có trách nhiệm và nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Thái Thị C2 giá trị đất 225.343.800 đồng.
  • Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả các khoản tiền nói trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
  • - Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T. Về việc yêu cầu tuyên bố HĐTCQSDĐ được ký kết giữa Ngân hàng với vợ chồng ông Trần Văn H và bà Trần Kim P là vô hiệu.
  • - Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Thái Thị C2. Về việc yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị T và ông Trần Văn C1 giao trả toàn bộ căn nhà theo hiện trạng thực tế (có diện tích 103,5 m², hiện trạng nhà cấp 4 khung bê tông cốt thép, vách xây tường 10 cm (có ốp gạch men cao 1,2 mét), nền lót gạch men, máy lợp tol lạnh và đòn tay kẽm, bên trong nhà có 02 phòng) và giao trả số tiền 99.400.000 đồng và 6,4 chỉ vàng 24k.

(Có bản trích đo hiện trạng ngày 22/7/2025 của Công ty TNHH Đ2 thể hiện diện tích, vị trí, mốc giới cụ thể của các phần đất và tranh chấp (kèm theo)).

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Bà Lê Thị C phải chịu án phí không có giá ngạch là 600.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0005663 ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau), bà Lê Thị C phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000 đồng.
  • + Bà Lê Thị T không phải chịu án phí; hoàn trả lại cho bà Lê Thị T 900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0011431 ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh C.
  • + Bà Thái Thị C2 thuộc trường hợp được miễn dự nộp tiền tạm ứng án phí và án phí.

3. Chi phí tố tụng: Bà Lê Thị C phải chịu toàn bộ số tiền 21.012.000 đồng (đã nộp và thực hiện xong).

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail);
  • - VKSND khu vực 3 – Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 3 – Cà Mau;
  • - Đương sự, NTGTT khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Huỳnh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 423/2025/DS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 423/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger