|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 421/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 31- 12 - 2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Ông Vũ Bá Bảo
- Thư ký phiên tòa: Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2025/QĐST - HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 161 ngày 25 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Hứa Văn M, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng kết hôn năm 2002 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa bàn phường N, thành phố Đà Nẵng. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2010 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, không có tiếng nói chung từ đó vợ chồng bất đồng mọi quan điểm, sự việc này vợ chồng cũng đã tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả mà ngược lại kéo dài đời sống trở nên mệt mỏi hơn. Vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng phần ai nấy sống từ tháng 9/2025 đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Nay bà Huỳnh Thị T xác định không còn yêu thương ông Hứa Văn M nữa. Nguyện vọng yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.
- Về con chung: Bà Huỳnh Thị T xác định có 02 con chung là Hứa Thị Thanh T1, sinh ngày 26/02/2003 và Hứa Thị Thanh T2, sinh ngày 26/02/2007. Ly hôn, các con đều đã trưởng thành nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn Ông Hứa Văn M vắng mặt không có ý kiến tại hồ sơ.
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.
- Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.
- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
* Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:
Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS, bị đơn không chấp hành đúng.
Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam;
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị T đối với ông Hứa Văn M.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị T được ly hôn ông Hứa Văn M.
- Về con chung: Có 02 con chung Hứa Thị Thanh T1, sinh ngày 26/02/2003 và Hứa Thị Thanh T2, sinh ngày 26/02/2007. Ly hôn, các con đều đã trưởng thành nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T xác định không có, tuy nhiên ông M vắng mặt nên không có căn cứ xác định có hay không nợ chung nên để đảm bảo quyền và nghĩa vụ các đương sự HĐXX tách ra sau này nếu có tranh chấp thì sẽ được thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung giữa ông bà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Ông Hứa Văn M (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Về nội dung vụ án: Bà Huỳnh Thị T và ông Hứa Văn M kết hôn vào năm 2002. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống không phù hợp nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn như vậy kéo dài nhưng không khắc phục được. Nay bà T xác định tình cảm không còn yêu thương ông M nữa, nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Hiện vợ chồng đã tự sống ly thân nhau càng tạo thêm rạn nứt tình cảm vợ chồng, có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì.
[5] Đối với ông M tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng ông đều vắng mặt thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông M là phù hợp với điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[6] Về con chung: Có 02 con chung là Hứa Thị Thanh T1, sinh ngày 26/02/2003 và Hứa Thị Thanh T2, sinh ngày 26/02/2007. Ly hôn, các con đều đã trưởng thành nên không đề cập đến.
[7] Về Tài sản chung bà T xác định có nhưng không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[8] Nợ chung: Bà T xác định không có, tuy nhiên ông M vắng mặt nên không có căn cứ xác định có hay không nợ chung nên để đảm bảo quyền và nghĩa vụ các đương sự HĐXX tách ra sau này nếu có tranh chấp thì sẽ được thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.
[8] Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Huỳnh Thị T phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0002771 ngày 03 tháng10 năm 2025.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của Huỳnh Thị T đối với ông Hứa Văn M.
Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị T được ly hôn ông Hứa Văn M.
2. Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không đề cập đến
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
4. Nợ chung: Tách ra khi có tranh chấp sẽ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khác (do bị đơn không có ý kiến)
5. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ bà Huỳnh Thị T phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0002771 ngày 03 tháng10 năm 2025.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Lương Thị Anh |
Bản án số 421/2025/HNGĐ - ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 421/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ ly hôn
