TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án: 42/2025/HSST Ngày 30 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà
- Bà Mai Thị Bình
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa thanh gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo: Lưu Văn T - sinh năm 1974 tại xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD 038074005242. Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Văn L (đã chết); con bà: Trịnh Thị N (đã chết), bị cáo có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, hai con nhỏ sinh năm 1996.
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2025 đến ngày 10/10/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
2. Bị cáo: Nguyễn Văn N1 – sinh ngày 23/11/1991 tại xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD 038091014005. Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B (đã chết); con bà: Mai Thị Đ; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2015,
Tiền án: Không; tiền sự: Không,
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2025 đến ngày 10/10/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
3. Bị cáo: Nguyễn Văn P, sinh ngày 25/5/1990 tại xã N, tỉnh Thanh Hóa. SỐ CCCD 038090012832. Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P1; con bà: Dương Thị T1; bị cáo có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2025
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2025 đến ngày 10/10/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
*Người làm chứng:
Mai Văn T2, sinh năm 1994, Nguyễn Văn T3, sinh năm 1996, Nguyễn Văn B1, sinh năm 1987, (đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 06/10/2025, khu dân cư thôn T, xã N có tổ chức ăn uống liên hoan tết Trung thu tại nhà bà Dương Thị T1, sinh năm 1969 nên T nảy sinh ý định mang theo bộ dụng cụ tự chế trước đó để đuổi chuột gồm: 01 đoạn ống nhựa có chiều dài 118,5cm, đường kính ngoài lớn nhất 6,7cm, nhỏ nhất 2,6cm, hai đầu hở được lắp ghép bằng các đoạn ống nhựa P2 có kích thước khác nhau và 01 bình ga mini gắn khò (là thiết bị đánh lửa gắn vào bình gas) nhằm mục đích bắn ra tạo tiếng nổ như pháo cho vui. Sau đó, T cầm dụng cụ trên ra trước cổng nhà mình hướng ống nhựa lên trời, áp bình gas vào một đầu của ống nhựa để bơm gas, rồi bóp khò gắn ở bình gas tạo ra một tiếng nổ lớn như tiếng súng kèm ánh sáng của tia lửa phụt ra ở đầu ống nhựa. Tiếp đó T cầm theo dụng cụ này mang đến để ở gốc cây cột điện đối diện ngõ nhà bà T1 rồi vào ăn uống liên hoan cùng mọi người.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, Nguyễn Văn P, sinh năm 1990 cùng với Nguyễn Văn N1, sinh năm 1991, Mai Văn T2, sinh năm 1994, Nguyễn Văn T3, sinh năm 1996, Nguyễn Văn B1, sinh năm 1987, ở cùng thôn với T, đi bộ từ ngõ nhà bà T1 ra trục đường liên thôn hướng ngã tư Công ty G để xem rước đèn trung thu. Tỉnh thấy vậy nên ra lấy ống nhựa tự chế và bình gas gắn khò đi theo sau mọi người. Quá trình di chuyển, T vừa đi vừa hướng ống nhựa lên trời, áp bình gas vào một đầu của ống nhựa để bơm gas, rồi bóp khò gắn ở bình gas tạo ra nhiều tiếng nổ lớn kèm ánh sáng phụt ra ở đầu ống nhựa. Khi đến trước Nhà nghỉ 339 của ông Dương Đình T4, sinh năm 1957 (trú cùng thôn), P và N1 nhờ T hướng dẫn cách sử dụng để tạo ra tiếng nổ. Được sự hướng dẫn của T, P và N1 mỗi người đều sử dụng một lần dụng cụ trên tạo nên tiếng nổ lớn trên đường đi. Sau đó, cả nhóm đi qua ngã tư G đến đoạn đường Y giao với đường liên thôn T, Tỉnh lấy bộ dụng cụ trên tiếp tục sử dụng tạo thêm nhiều tiếng nổ lớn. Lúc này, T, Phụng và N1 không thấy đoàn rước đèn Trung thu nên cả nhóm quay về nhà mình theo trục đường cũ dài 800m. Đến 04 giờ 30 phút ngày 07/10/2025, T, Phụng và N1 thấy hành vi của mình là vi phạm pháp
luật nên đã đến Công an xã N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời T giao nộp một đoạn ống nhựa và một bình gas mini. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiếp nhận nguồn tin và tiến hành rà soát, thu giữ 16 đoạn video camera an ninh ghi lại hình ảnh nhóm người đi cùng với T.
Ngày 09/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ban hành Quyết định số D853/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số, dữ liệu điện tử đối với 16 đoạn video nêu trên.
Tại Bản Kết luận số 4000/KL-KTHS ngày 17/10/2025, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
“Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video lưu trong các mẫu vật gửi giám định.
- Trích xuất 12 (mười hai) ảnh từ các tệp video gửi giám định”
Ngày 09/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ban hành Quyết định số D854/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định tang vật thu giữ của T giao nộp liên quan đến vụ án.
Tại Bản Kết luận số 3989/KL-KTHS ngày 16/10/2025, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
“1. 01 (một) ống hình trụ tròn rỗng dài 118,5cm và 01 (một) thiết bị khò khí hóa lỏng cầm tay dài 23,2cm gửi giám định không thuộc vũ khí và không thuộc công cụ hỗ trợ. Hai mẫu vật này lắp ghép với nhau tạo thành 01 (một) vật dài 128,5cm gửi giám định không thuộc vũ khí và không thuộc công cụ hỗ trợ.
2. Phòng K từ chối giám định các mẫu vật gửi giám định có phải là hung khí hay không và nếu không phải vũ khí, hung khí, công cụ hỗ trợ thì là loại gì do nội dung trưng cầu giám định này không thuộc phạm vi chuyên môn.”
Quá trình điều tra, Lưu Văn T, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Những người làm chứng có mặt đã khai báo trung thực, khách quan phù hợp tình tiết, nội dung bản cáo trạng và phù hợp lời khai trong quá trình điều tra.
Vật chứng thu giữ đang được bảo quản chờ xử lý gồm:
- - 01 (một) đoạn ống nhựa có đặc điểm hai đầu hở, chất liệu P2, có tổng chiều dài 118,5cm, gồm nhiều đoạn ống hình trụ tròn, ghép nối với nhau bằng keo và ren, không nhãn mác, tình trạng không bị nứt vỡ.
- - 01 (một) bình ga mini nhãn hiệu Aphome, vỏ bình bằng kim loại màu trắng cam, trên thân vỏ có chữ “BUTANE GAS” dung tích 220g, phía trên bình có gắn đầu khò bằng kim loại, màu bạc, thân khò bằng nhựa màu cam, có nút vặn chỉnh và cò bóp, đã qua sử dụng.
Toàn bộ vật chứng vụ án đã được chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự vào ngày 12/12/2025 để chờ xử lý theo bản án.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSHL ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa, truy tố các bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn P về tội: “ Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025, tuyên bố các bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt bị cáo Lưu Văn T mức án từ 09 tháng, đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 mức án từ 06 tháng, đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án từ 06 tháng, đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để được cải tạo tại địa phương.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn ống nhựa có đặc điểm hai đầu hở, chất liệu P2, có tổng chiều dài 118,5cm, gồm nhiều đoạn ống hình trụ tròn, ghép nối với nhau bằng keo và ren, không nhãn mác, tình trạng không bị nứt vỡ; 01 (một) bình ga mini nhãn hiệu Aphome, vỏ bình bằng kim loại màu trắng cam, trên thân vỏ có chữ “BUTANE GAS” dung tích 220g, phía trên bình có gắn đầu khò bằng kim loại, màu bạc, thân khò bằng nhựa màu cam, có nút vặn chỉnh và cò bóp, đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng vụ án đã được chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự vào ngày 12/12/2025 để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục lưu giữ các tệp video gửi giám định được dán kín phong bì có trong hồ sơ để bảo đảm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy
tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Bị cáo Lưu Văn T khai nhận khi đến nhà bà Dương Thị T1 người cùng thôn T, xã N để ăn uống Trung thu thì có mang theo một bộ dụng cụ tự chế gồm; 01 đoạn ống nhựa có chiều dài 118,5cm, đường kính 6,7cm, nhỏ nhất 2,6cm, hai đầu hở được lắp ghép bằng các đoạn ống nhựa P2 có kích thước khác nhau và 01 bình ga mini gắn khò là thiết bị đánh lửa gắn vào bình gas, nhằm mục đích mỗi lần sử dụng thì tạo tiếng nổ như pháo và tia lửa phụt ra từ ống nhựa. Tuy nhiên, khi vào nhà bà T1 thì bị cáo T không mang theo vào nhà mà cất dựng ở bên ngoài. Khoảng 23 giờ đêm ngày 06/10/2025, cùng trên trục đường khu dân cư dài khoảng 800m, Lưu Văn T đã sử dụng bộ dụng cụ trên hướng lên không trung để sử dụng tạo ra nhiều tiếng nổ lớn ở nhiều địa điểm khác nhau, sau đó vừa đi vừa hướng dẫn cho Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn N1 thực hiện hành vi sử dụng, mỗi lần đều tạo ra nhiều tiếng nổ lớn và ánh sáng của tia lửa phụt ra ở đầu ống nhựa, gây hoang mang, lo sợ cho người dân khu dân cư “tưởng là dùng súng bắn nhau”. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp biên bản xác định hiện trường, sơ đồ xác định hiện trường, kèm theo bản ảnh trích xuất tại hiện trường, báo cáo của thôn T; Kết luận giám định của các đoạn video tại hiện trường, Kết luận giám định của cơ quan giám định về vật chứng được giao nộp thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự luật định. Do đó, đủ căn cứ để khẳng định, hành vi của bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn N1 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm tù.
[3]. Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và sự quản lý của chính quyền, gây hoang mang bất bình trong quần chúng nhân dân,
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, sau khi phạm tội đã trình diện đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó xác định bị cáo Lưu Văn T có vị trí vai trò thứ nhất; các bị cáo N1 và P là người được hướng dẫn thực hiện sử dụng công cụ phương tiện gây ra tiếng nổ nên có vai trò đồng phạm, lẽ ra hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các
bị cáo đều là người chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội thể hiện thái độ cầu thị, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng TNHS, trong đó bị cáo T có vị trí vai trò thứ nhất nhưng giao nộp tài liệu, bệnh án đang điều trị ung thư giai đoạn di căn; nhận thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, cũng đảm bảo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Đối với Nguyễn Văn B1, Mai Văn T2 và Nguyễn Văn T3 là những người đi theo cùng với các bị cáo, tuy những người này không có ý trí, hành động sử dụng công cụ hoặc cổ súy, giúp sức cùng với các bị cáo khi phạm tội, việc những người trên đi cùng là mục đích đến khu vực ngã tư Công ty G để xem tổ chức rước đèn Trung thu, khi không thấy tổ chức rước đèn trung thu thì đều đi về nhà, nên trong giai đoạn điều tra Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã không đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 (một) đoạn ống nhựa có đặc điểm hai đầu hở, chất liệu P2, có tổng chiều dài 118,5cm, gồm nhiều đoạn ống hình trụ tròn, ghép nối với nhau bằng keo và ren, không nhãn mác, tình trạng không bị nứt vỡ; 01 (một) bình ga mini nhãn hiệu Aphome, vỏ bình bằng kim loại màu trắng cam, trên thân vỏ có chữ “BUTANE GAS” dung tích 220g, phía trên bình có gắn đầu khò bằng kim loại, màu bạc, thân khò bằng nhựa màu cam, có nút vặn chỉnh và cò bóp, đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng vụ án đã được bàn giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự vào ngày 12/12/2025 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với giữ liệu điện tử được thu giữ được của các hộ dân nơi xảy ra hành vi phạm tội cần tiếp tục lưu giữ các đoạn video được dán kín phong bì có trong hồ sơ để bảo đảm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tuyên bố: Các bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T, mức án 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P, mức án 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N1, mức án 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01(một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn N1 cho UBND xã N, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điển c khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả đã được bàn giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 12/12/2025 để xử lý thi hành theo quy định của pháp luật.
Đối với các giữ liệu điện tử cần tiếp tục lưu giữ các đoạn video được dán kín phong bì có trong hồ sơ để bảo đảm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lưu Văn T, Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 61 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghi |
Bản án số 42/2025/HSST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 42/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
