|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/12/2025 V/v: “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đình Quốc và ông Nguyễn Bảo Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Hồng S, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố U, phường H, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Xuân T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu phố U, phường H, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lương Hồng S trình bày:
- Quan hệ hôn nhân: Bà S và ông T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2012, đăng ký kết hôn và được UBND xã H (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 03/12/2012. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã. Hai vợ chồng cũng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Có 02 con chung là Võ Lương Khánh T1, sinh ngày 16/02/2015 và Võ Lương V, sinh ngày 27/8/2027, hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Xuân T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án.
Tại phiên tòa
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà S được ly hôn với ông T.
- + Về con chung: Giao cho bà S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng hai con chung Võ Lương Khánh T1, sinh ngày 16/02/2015 và Võ Lương V, sinh ngày 27/8/2027; bà S không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét.
- + Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.
- + Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Lương Hồng S khởi kiện xin ly hôn ông Võ Xuân T, có đăng ký thường trú tại khu phố U, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.
[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo biên bản xác minh ngày 28/10/2025 tại Công an phường H, ông Võ Xuân T2 có đăng ký nhân khẩu thường trú tại Khu phố U, phường H, tỉnh Đắk Lắk, hiện nay đang đi làm ăn ở xa nhưng có đi, về địa phương thường xuyên. Tuy nhiên trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà S và ông T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2012, đăng ký kết hôn và được UBND xã H (nay là UBND xã H, tỉnh Đắk Lắk) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 03/12/2012, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Nhận thấy, bà S cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cương quyết ly hôn; ông T không đến tòa để hòa giải là không có thiện chí trong việc hàn gắn mâu thuẫn. Tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S để đảm bảo cho các bên có cuộc sống riêng ổn định.
[2.2] Về con chung: Bà S và ông T có hai con chung là Võ Lương Khánh T1, sinh ngày 16/02/2015 và Võ Lương V, sinh ngày 27/8/2027. Hiện nay, hai con chung đang do bà S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng và đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Bà S có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung, ông T vắng mặt không có ý kiến. Xét thấy việc giao hai con chung cho bà S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp thực tế và nguyện vọng con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu nên HĐXX chấp nhận. Bà S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lương Hồng S được ly hôn với ông Võ Xuân T.
- Về con chung: Giao bà Lương Hồng S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là Võ Lương Khánh T1, sinh ngày 16/02/2015 và Võ Lương V, sinh ngày 27/8/2027. Bà S không yêu cầu nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản; Khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Lương Hồng S nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn, đã nộp đủ theo Biên lai số 0001156 ngày 29/9/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Các Hội thẩm nhân dân Lê Thanh Khảnh Nguyễn Văn T3 |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Tuyết Trinh |
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 12 – Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - UBND phường Hoà Hiệp; - Lưu Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Tuyết T4 |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk về ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ ĐƠN VẮNG MẶT
