Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 419/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 31 - 12 - 2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bá Công
  • Ông Phạm Văn Dũng
  • - Thư ký phiên tòa: Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2025/QÐST - HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 156 ngày 25 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm: 1989; căn cước công dân số: 049089012361 cấp ngày 08/5/2022 tại Cục C về TTXH. Địa chỉ thường trú: Thôn H, xã T, TP Đà Nẵng. Nơi ở: 4 L, phường T, TP Đà Nẵng. Có mặt.

Bị đơn: Bà Trương Thị H1; Sinh năm: 1990; CCCD số: 049190002968 cấp ngày 07/03/2023 tại Cục C về TTXH. Địa chỉ thường trú: Số G T, phường A, TP Đà Nẵng. Nơi cư trú: Phòng 1015, Plaza2 FPT đường H2, khu đô thị F, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Hồng H và bà Trương Thị Thu H1 kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T (nay là UBND xã T). Vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng mọi quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Điều này ảnh hưởng tiêu cực và nghiêm trọng đến đời sống hôn nhân. Mặc dù đã cố gắng hoà giải nhiều lần nhưng vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trương Thị Thu H1.

Về con chung: Ông Nguyễn Hồng H xác định có 02 con chung là:Nguyễn Minh T, sinh ngày 31/10/2017 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/10/2020. Ly hôn ông H đồng ý giao các con cho bà Trương Thị Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông cấp dưỡng nuôi con 20.000.000 đồng/tháng (mỗi con 10.000.000đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng cho các con đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn bà Trương Thị Thu H1 vắng mặt không có ý kiến tại hồ sơ.

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

  1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

      Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.

      - Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.

      - Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.

      - Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.

    • Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:

      Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

    Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS, bị đơn không chấp hành đúng.

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83,84 và 110 Luật hôn nhân gia đình ;

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Hồng H đối với bà Trương Thị Thu H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung giữa ông bà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bà Trương Thị Thu H1 (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Hồng H và bà Trương Thị Thu H1 kết hôn vào năm 2016. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện T (nay là UBND xã T). Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn và bắt đầu sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Nguyên nhân do tính cách và quan điểm sống không phù hợp nhau, bất đồng mọi quan điểm dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Mâu thuẫn như vậy kéo dài nhưng không khắc phục được. Nay ông H xác định tình cảm không còn yêu thương bà H1 nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông H thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Hiện vợ chồng đã sống ly thân nhau, càng tạo thêm rạn nứt tình cảm vợ chồng, có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì.

[5] Đối với bà H1 tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng đều vắng mặt thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật cũng như bỏ mặc việc níu kéo đối với chính cuộc hôn nhân của mình. Xét thấy mâu thuẫn của ông H và bà H1 đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H đối với bà H1 là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[6] Về con chung: Ông H và bà H1 có 02 con chung Nguyễn Minh T, sinh ngày 31/10/2017 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/10/2020. Hiện nay các con đều đang ở với bà H1 và cháu T cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Ly hôn ông H đồng ý giao con cho bà H1 nuôi dưỡng. Xét yêu cầu nuôi con thì thấy, hiện nay các cháu đang ở ổn định với H1 và không nhất thiết phải thay đổi môi trường sống của cháu, do đó thấy giao con cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con ông H tự nguyện đồng ý cấp dưỡng nuôi con 20.000.000 đồng/tháng (mỗi cháu 10.000.000 đồng/tháng). Thấy mức trợ cấp này là tự nguyện và không ảnh hưởng quyền lợi của các con nên chấp nhận.

[7] Về tài sản chung và nợ chung ông H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[8] Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000₫ ông Nguyễn Hồng H phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0002692 ngày 02 tháng 10 năm 2025. Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng ông H phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 33; Điều 51, Điều 56, 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của ông Nguyễn Hồng H đối với ông Trương Thị Thu H1.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Hồng H được ly hôn bà Trương Thị Thu H1.
  2. Về con chung: Giao Nguyễn Minh T, sinh ngày 31/10/2017 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01/10/2020 cho bà Trương Thị Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông Nguyễn Hồng H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 20.000.000 đồng (mỗi con 10.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (31.12.2025) cho đến khi con đủ 18 tuổi.
  3. Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
  5. Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000đ ông Nguyễn Hồng H phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0002692 ngày 02 tháng 10 năm 2025. Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng ông H phải chịu.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện KSND khu vực 2- ĐN
  • - Thi hành án dân sự TPĐN
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Lương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 419/2025/HNGĐ - ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 419/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger