Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG

Bản án số: 416/2025/HNGĐ-ST

Ngày 31/12/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 216/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 151/2025/QÐST-HN ngày 15/12/2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1999. CCCD số [...] cấp ngày 29/9/2022. Nơi cư trú: D B, phường A, thành phố Đà Nẵng. SĐT: 0814.944.xxx. Có mặt.

*Bị đơn: Ông Ngô Hồ H, sinh năm 1990. Nơi cư trú: B Mỹ Đa T, phường N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh N trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Ngô Hồ H kết hôn năm 2017, hôn nhân tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận N (cũ), nay là phường N, TP Đà Nẵng. Giấy đăng ký kết hôn số 87 ngày 30 tháng 11 năm 2017. Vợ chồng sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống mỗi người khác nhau nên chúng tôi thường hay xung đột, cải vả. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022, không ai quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay về tình cảm tôi xác định không còn yêu thương anh Ngô Hồ H nữa nên xin tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Ngô Hồ H.
  • - Về quan hệ con chung: Tôi và anh Ngô Hồ H có 02 con chung là Ngô Tuệ L, sinh ngày 22/10/2017 và Ngô Hải M, sinh ngày 17/03/2021. Ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung Ngô Tuệ L và Ngô Hải M, không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Minh N xác định không có.

* Bị đơn trong quá trình tham gia tố tụng ông Ngô Hồ H không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng:

  • - Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
  • -Về nội dung vụ án:
    • + Về hôn nhân: xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của bà Nguyễn Thị Minh N và ông Ngô Hồ H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng nên căn cứ vào Điều 51, 56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh N.
    • +Về con chung: có 02 con chung là Ngô Tuệ L, sinh ngày 22/10/2017 và Ngô Hải M, sinh ngày 17/03/2021. Hai con chung đang ở với bà N nên đề nghị nên áp dụng Điều 81, 82 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX giao 02 con cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
    • +Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn bà Nguyễn Thị Minh N và ông Ngô Hồ H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 15/12/2025 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh N thì thấy:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Minh N và ông Ngô Hồ H kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, quận N (cũ), nay là phường N, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Theo bà N trình bày mâu thuẩn của vợ chồng là: do tính tình không hợp, quan điểm sống mỗi người khác nhau nên thường hay xung đột, cải vả. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022, không ai quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà N đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Ngô Hồ H.

Theo xác minh tại UBND phường N, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà N và ông H có mâu thuẩn, còn mâu thuẩn cụ thể như thế nào thì địa phường không rõ, chỉ biết hiện nay bà N và ông H không còn sống chung với nhau. Ông H đang ở tại nhà cha mẹ ruột mình.

Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay ông Ngô Hồ H không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng điều này thể hiện ông H không có mong muốn đoàn tụ, bỏ mặc cho mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, thể hiện thái độ không tôn trọng pháp luật nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt này. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông H đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà N yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Minh N và anh Ngô Hồ H có 02 con chung là Ngô Tuệ L, sinh ngày 22/10/2017 và Ngô Hải M, sinh ngày 17/03/2021. Ly hôn bà N có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung Ngô Tuệ L và Ngô Hải M, không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, hiện nay theo xác minh tại địa phương 02 con chung đang được bà N nuôi dưỡng nên tiếp tục giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật HNGĐ năm 2014.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa hôm nay bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nên không xét.

[2.3].Về tài sản chung và nợ chung: bà N khai không có nên không xét.

Nếu sau này có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà N phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,56,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Minh N đối với ông Ngô Hồ H.

    Tuyên xử: Bà Nguyễn Thị Minh N; sinh năm: 1999 được ly hôn với ông Ngô Hồ H; sinh năm: 1990.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 87/2017 của UBND phường K, quận N (cũ), nay là phường N, TP Đà Nẵng cấp ngày 30 tháng 11 năm 2017 không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Tuyên giao 02 con chung Ngô Tuệ L, sinh ngày 22/10/2017 và Ngô Hải M, sinh ngày 17/03/2021 cho bà Nguyễn Thị Minh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Ông Ngô Hồ H không cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng bà N phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0002983 ngày 06/10/2025 tại Thi hành án TP Đà Nẵng.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND KV 2 Đà Nẵng;
  • -THA DS TPĐN;
  • - Phòng THA KV 2 Đà Nẵng;
  • - UBND p. Sơn Trà, TPĐN;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 416/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 416/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Minh Ng xin ly hôn với ông Ngô Hồ H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger