Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 29 - 12 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tỷ

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Long

2/ Ông Nguyễn Thanh Phúc

- Thư ký phiên tòa:

Ông Tô Quang Đô – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Như N, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1991 tại tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình); trú tại: Thôn E, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là phường K, tỉnh Ninh Bình); CCCD số: 035091008962, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như Đ sinh năm 1966 và bà Trần Thị S, sinh năm 1967; có vợ là Nguyễn Thị Y, sinh năm 1993 và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

- Bị hại: Anh Hoàng Minh P, sinh năm 1983

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại:

Chị Bùi Thị T, sinh năm 1970 (Có đơn xét xử vắng mặt)

Trú tại: Số C N, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1983 (đồng thời là người làm chứng)
  2. Trú tại: Tổ C, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Có mặt)

  3. Anh Nguyễn Như H1, sinh năm 1990
  4. Trú tại: Phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Có mặt)

  5. Anh Phùng Việt A, sinh năm 1984
  6. Trú tại: Số D, tổ D (tổ A) Q, phường C, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Trú tại: Số F N, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/8/2024, sau khi uống rượu tại số nhà B P, phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi), Nguyễn Như N (Không có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 lưu thông trên Quốc lộ A (hướng từ phường L, thành phố K cũ đi huyện Đ, tỉnh Kon Tum cũ) để lên công trình tại đường T, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi). Khi đi đến Km1550 Quốc lộ A, đoạn trước Bến xe K thuộc địa phận phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi), lúc này phía trước cách xe mô tô của Nguyễn Như N khoảng 20 - 30m, anh Hoàng Minh P đang đi bộ trên vạch kẻ đường dành cho người đi bộ từ Bến xe K qua cây xăng V thì tay phải của anh P va chạm vào tay lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 do chị Phan Thị Ngọc H điều khiển, lưu thông theo hướng từ thành phố K (cũ) đi huyện Đ (cũ) làm cho xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 và chị Phan Thị Ngọc H loạng choạng, chạy thêm một đoạn sau đó ngã ra đường. Còn anh P tiếp tục đi trên phần đường dành cho người đi bộ rồi bất ngờ quay ngược lại đi thêm 02 - 03 bước loạng choạng thì lúc này, Nguyễn Như N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 với tốc độ nhanh (từ 65,48km/h đến 67,38km/h theo kết luận giám định) đi đến. Vì khoảng cách quá gần, nên Nguyễn Như N đã không có bất kỳ xử lý nào (không giảm tốc độ để có thể dừng lại một các an toàn, thiếu chú ý quan sát) dẫn đến xảy ra tai nạn với anh Hoàng Minh P. Phần đầu của anh P đã va chạm với đầu của Nguyễn Như N làm cho anh P và Nguyễn Như N ngã ra đường, xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 trượt dài trên đường và va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 bị ngã trước đó.

Hậu quả: Anh Hoàng Minh P và Nguyễn Như N bị thương tích phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K (cũ).

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma túy và chất kích thích khác: Nguyễn Như N có nồng độ cồn trong máu chỉ số 123mg/dl (tương đương 123mg/100ml), không có chất ma túy trong cơ thể. Hoàng Minh P có nồng độ cồn trong máu chỉ số 119mg/dl (tương đương 119mg/100 ml).

Tại Bản kết luận giám định số: 06/KLGĐTT-TTPY ngày 23/01/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh K (cũ), kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Minh P tại thời điểm giám định là 75%.

Tại Kết luận giám định số: 361/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K (nay là Công an tỉnh Q), kết luận: Tập tin video "31082024.mp4", thời lượng 01 phút 01 giây, dung lượng 89.7MB gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa. Tại thời điểm 21 giờ 29 phút 57 giây đến 21 giờ 30 phút 03 giây ngày 31/8/2024 (Thời gian hiển thị trên video), trong tập tin video "31082024.mp4", thời lượng 01 phút 01 giây, dung lượng 89.7MB quan sát thấy: Ông Hoàng Minh P (Người đi bộ) đang di chuyển dưới lòng đường theo hướng từ thành phố K đi huyện Đ thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 đang lưu thông cùng chiều. Sau khi va chạm với xe biển kiểm soát 82B1-058.36, người đi bộ di chuyển ngang qua đường từ bên phải sang bên trái rồi quay đầu di chuyển ngược lại thì va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 đang lưu thông theo hướng từ thành phố K đi huyện Đ. Xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 tiếp tục trượt dài và va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 đang nằm trên đường. Vận tốc của xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 được xác định là từ 65,48km/h đến 67,38km/h. Không xác định được vận tốc của xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 trước thời điểm xảy ra va chạm.

Tại Bản Kết luận giám định số: 821/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Không đủ cơ sở kết luận dấu vết va chạm giữa ông Hoàng Minh P và xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36; giữa ông Hoàng Minh P và xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989. Vị trí va chạm đầu tiên giữa ông Hoàng Minh P và xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989, giữa ông Hoàng Minh P và xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 nằm ở phần đường bên phải đường Quốc lộ 14 theo chiều hướng phường K đi xã Đ. Không đủ yếu tố xác định dấu vết va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36. Không đủ yếu tố xác định vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 trên mặt đường. Không đủ cơ sở kết luận phương, chiều hướng chuyển động của ông Hoàng Minh P khi xảy ra tai nạn; khi xảy ra tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 chuyển động trên đường Quốc lộ 14 theo chiều hướng từ phường K đi xã Đ. Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và xe mô tô biển kiểm soát 82B1-058.36 khi xảy ra tai nạn (hiện nay, trong lĩnh vực giám định dấu vết cơ học chưa có quy trình giám định tốc độ xe mô tô).

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là tại Km1550 Quốc lộ A thuộc tổ A, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi). Đoạn đường khu vực xảy ra tai nạn có trục đường chạy theo hướng T - Đ, hướng T đi huyện Đ (nay là xã Đ), hướng Đ đi trung tâm thành phố K (nay là phường K); là đường hai chiều, lòng đường rộng 21,4m, có dải phân cách cố địch ở giữa rộng 2m, lòng đường mỗi bên rộng 9,7m. Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại phần đường phía Đông Bắc (hướng đi huyện Đ, nay là xã Đ), mặt đường trải nhựa bê tông bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn. Phần đường xảy ra tai nạn được chia làm ba làn, làn ngoài sát với vỉa hè, rộng 2,3m chia cách bằng dải phân cách màu trắng liên tục, hai làn phía trong chia cách bởi dải phân cách màu trắng đứt đoạn, vỉa hè phía Đông Bắc rộng 4,6m. Tại hiện trường có vạch kẻ đường cho người đi bộ màu trắng; bên mép đường phía Đông Bắc có rãnh thoát nước rộng 0,45m.

Chọn trụ điện có ký hiệu 485KTU/18/Đ.PĐP làm điểm mốc cố định, chọn mép đường phía Đông Bắc của phần đường xảy ra tai nạn làm mép đường chuẩn, tiến hành đưa các phương tiện liên quan vào vị trí đã được đánh dấu sau khi tai nạn xảy ra thấy: Xe mô tô biển số 82B1-058.36 (ký hiệu xe 1) nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc, trục trước, trục sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 02m và 0,8m. Xe mô tô biển số 29P5-5989 (ký hiệu xe 2) nằm ngã nghiêng về phía bên phải, đầu xe quay hướng B, đuôi xe quay hướng Nam, trục trước, trục sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 0,7m và 1,7m; trục trước xe 2 đến trục sau xe 1 là 0,6m. Tại hiện trường ghi nhận 03 vị trí nạn nhân. Từ đầu các nạn nhân Phan Thị Ngọc H (ký hiệu NN1), Nguyễn Như N (ký hiệu NN2), Hoàng Minh P (ký hiệu NN3) đến mép đường chuẩn lần lượt là 0,3m, 1,5m và 04m.

Qua công tác khám nghiệm, xác định có 03 vị trí điểm đụng (ĐĐ) liên quan đến vụ tai nạn giao thông, cụ thể: Điểm đụng 1 (ĐĐ1) giữa xe 1 với NN3 tại vị trí vạch kẻ đường cho người đi bộ; điểm đụng 2 (ĐĐ2) giữa xe 2 với NN3 tại vị trí vạch kẻ đường cho người đi bộ; điểm đụng 3 (ĐĐ3) giữa xe 1 với xe 2 tại làn đường sát mép đường chuẩn. Từ ĐĐ1 đến mép đường chuẩn 4,2m; đến NN3 7,3m. Từ ĐĐ2 đến mép đường chuẩn 3,8m; đến ĐĐ1 1,6m về hướng Đông; đến trụ điện theo hướng vuông góc (4,6+4,7)m=9,3m; đến trục trước và trục sau xe 1 lần lượt là 29,5m và 29m; đến đầu NN1 27,4m; đến trục trước và trục sau xe 2 lần lượt là 28,7m và 28,4m; đến đầu NN2 8,7m; đến biển báo giao nhau với đường không ưu tiên hướng Đông Nam theo hướng vuông góc (49,3+4,9)m=54,2m; đến đèn giao thông màu vàng nhấp nháy hướng Đông Nam theo hướng vuông góc (67+4,9)m=71,9m; đến biển báo người đi bộ sang đường hướng Đông Nam theo hướng vuông góc (71,8+4,9)m=76,7m.

Kiểm tra xe 1 thấy: Yếm bên phải có dấu vết cà xước kích thước (20x1,5)cm; ốp ống bô xe có dấu vết cà xước kích thước (27x2)cm; gác để chân phía sau bên phải có dấu vết cà xước kích thước (2x0,5)cm.

Kiểm tra xe 2 thấy: Phần đèn chiếu sáng phía trước tách rời vị trí lắp ghép; yếm bên trái có hai vết gãy bể kích thước lần lượt là 15cm và 08cm; ốp phuộc nhún bên trái phía trước bị mất; mặt nạ phía trước bị trầy xước dài 25cm; hai gương chiếu hậu không còn, trơ khung kim loại; phần khung gương chiếu hậu bên trái bị trầy xước kích thước (15x1,5)cm; tay nắm phanh trước bên phải bị trầy xước, gãy hướng từ dưới lên trên.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKSKV7 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Như N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 026342 mang tên Phùng Việt A.

Về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Quảng Ngãi trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Như N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/8/2024, tại Km1550 Quốc lộ A, đoạn trước Bến xe K thuộc địa phận phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi), Nguyễn Như N do không tuân thủ đúng các quy định về điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông, cụ thể bị cáo N điều khiển xe mô tô chạy quá tốc độ tối đa cho phép, khi đi qua khu vực bến xe, đoạn đường có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu (trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định 123mg/100ml máu) và không có giấy phép lái xe theo quy định nên đã gây ra tai nạn cho anh Hoàng Minh P. Hậu quả, gây tổn hại sức khỏe cho anh Hoàng Minh P với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 75%.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Nguyễn Như N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như hậu quả mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm nghiêm trọng các quy định về điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông đường bộ được quy định tại các khoản 8, 9, 11 Điều 8, khoản 4 Điều 11 của Luật Giao thông đường bộ; Điều 5, Điều 6 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 của Luật phòng chống tác hại của rượu bia; hậu quả gây tổn hại sức khỏe cho bị hại anh Hoàng Minh P với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 75%. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; đại diện gia đình của bị hại đã làm đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong suốt quá trình tố tụng, đồng thời người đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên cũng có một phần lỗi của bị hại, khi anh Hoàng Minh P đang đi bộ qua đường thì bất ngờ quay ngược lại đi được 02 - 03 bước, không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn dẫn đến vụ tai nạn. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt (không có tiền án, tiền sự); có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, hậu quả vụ tai nạn không gây ra tử vong, chỉ gây tổn hại sức khỏe cho bị hại anh Hoàng Minh P, nên không cần thiết cách ly bị cáo Nguyễn Như N ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử một mức án có thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sau này.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Như N đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Như H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì nên không xem xét giải quyết.

[9] Về các tình tiết khác:

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 do bị cáo Nguyễn Như N mượn của anh Nguyễn Như H1 điều khiển, gây ra tai nạn giao thông. Tuy nhiên tại thời điểm đó, anh Nguyễn Như H1 đang để xe ở công trình, bị cáo Nguyễn Như N tự ý lấy đi, anh Nguyễn Như H1 không biết và không giao xe mô tô này cho bị cáo Nguyễn Như N sử dụng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Như H1 là có căn cứ.

Đối với hành vi va chạm giữa chị Phan Thị Ngọc H và anh Hoàng Minh P: Nhận thấy đây là va chạm giao thông nhẹ, không phải nguyên nhân dẫn đến thương tích của bị hại anh Hoàng Minh P và chị Phan Thị Ngọc H không bị thương tích gì. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q không xem xét xử lý hành vi va chạm giao thông giữa chị H và anh P là phù hợp. Tuy nhiên, chị Phan Thị Ngọc H đi qua khu vực bến xe, đoạn đường có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến va chạm với anh Hoàng Minh P là đã vi phạm Điều 5, Điều 6 của Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q chuyển hồ sơ đến Phòng C1 để xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Hoàng Minh P khi đi bộ qua đường không đảm bảo an toàn dẫn tai nạn là đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 9 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Như N không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu gì về thương tích của mình. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Hoàng Minh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng pháp luật.

[10] Về vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại xe mô tô biển số 82B1-058.36, giấy đăng ký mô tô và giấy phép lái xe mang tên Phan Thị Ngọc H cho chủ sở hữu chị Phan Thị Ngọc H là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 026342 mang tên Phùng Việt A: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ được xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 nêu trên là của anh Nguyễn Như H1. Tuy nhiên tại phiên tòa, anh Nguyễn Như H1 có ý kiến không nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 026342 mang tên Phùng Việt A và đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước tài sản này. Hội đồng xét xử xét thấy việc anh Nguyễn Như H1 có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 026342 mang tên Phùng Việt A (tài sản của anh Nguyễn Như H1) là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. 2. Về hình phạt: Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như N 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Như N cho Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. 3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, tuyên:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 29P5-5989 và 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 026342 mang tên Phùng Việt A. Tất cả đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

(Các vật chứng trên có đặc điểm theo như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7, tỉnh Quảng Ngãi).

  1. 4. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Như N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. 5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29 - 12 - 2025), bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND Khu vực 7;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh QN;
  • - THADS tỉnh Quảng Ngãi;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh QN;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Như Nghị phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger