Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày: 22/12/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Hưng.

2. Bà Vi Thị Huệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Lang Thanh Như – Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lô Thị Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST – HS ngày 10 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn B, tên gọi khác: Không; sinh năm: 2002 tại xã C, huyện Q cũ (nay là xã C), tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản B, xã C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn H và bà Lương Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Năm 2024 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu (cũ), tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 54/2024/HS-ST ngày 24/7/2024, chấp hành xong bản án vào ngày 06/4/2025 (tính đến ngày phạm tội chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/02/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu (cũ), tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” số 07/2021/QĐ-TA với thời hạn là 18 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 10/6/2022; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2025 đến nay. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/8/2025 Lương Văn B một mình từ chỗ ở tại bản B, xã C, tỉnh Nghệ An bắt xe khách lên khu vực xã T với mục đích tìm mua ma túy sử dụng, khi đến khu vực ngã ba P thuộc thôn L, xã T, tỉnh Nghệ An thì B xuống xe tiếp tục thuê xe ôm đến cổng chào bản Mường Hin, xã T, tỉnh Nghệ An, tại đó B gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi người đàn ông có lấy được ma túy không, người đàn ông trả lời lấy được thì B đưa số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) cho người đàn ông để mua ma túy, sau khi đi rời khỏi đó một lúc người đàn ông quay lại giao cho B 01 (một) gói bên ngoài bọc bằng giấy ăn màu trắng, bên trong có gói ni lông màu trắng chứa chất cục bột màu trắng. Sau khi mua được ma túy B cầm trên tay phải của mình rồi đi bộ ra quốc lộ D đón xe khách về nhà. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày khi B đang đi bộ trên đường thuộc khu vực bản Mường Hin, xã T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Nghệ An yêu cầu kiểm tra hành chính, B đã tự nguyện giao nộp gói ma túy vừa mua được cho tổ công tác, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa về trụ sở làm việc, sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp tục điều tra làm rõ hành vi tội phạm đã thực hiện.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 21/8/2025 của cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh N (tổ địa bàn số 02) mô tả: “Sau khi mở gói niêm phong thấy bên trong có: 01 (một) gói, bên ngoài được bọc bằng giấy màu trắng, lớp thứ hai là lớp ni long màu trắng, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy)”.

Giám định viên dùng cân kỹ thuật để xác định khối lượng và lấy mẫu giám định như sau: Gói niêm phong có tổng khối lượng khi chưa loại bỏ bao bì là 1,60g (một phẩy sáu mươi gam), sau khi đã loại bỏ bao bì cục bột màu trắng còn lại có khối lượng là 0,39g (không phẩy ba mươi chín gam), trích lấy 0,18g (không phẩy mười tám gam) khối lượng chất cục bột màu trắng đưa đi giám định ký hiệu là M1.

Vật chứng còn lại gồm 0,21g (không phẩy hai mươi mốt gam) chất cục bột màu trắng, vỏ bao ni lông màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.

Kết luận giám định số: 375/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 26/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu cục bột màu trắng thu giữ của Lương Văn B gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số cục bột màu trắng thu giữ của Lương Văn B có khối lượng là 0,39 gam (không phẩy ba mươi chín gam).”

Cáo trạng số: 16/CT-VKS-KV10 ngày 09/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, truy tố bị cáo Lương Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Lương Văn B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm 0,21g (không phẩy hai mươi mốt gam) ma túy còn lại, mảnh bao ni lông màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản khám xét; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, ghi lời khai của bị cáo và người làm chứng, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa cùng những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 21/8/2025 tại khu vực bản Mường Hin, xã T, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bị cáo Lương Văn B có hành vi cất giấu 01 (một) gói ma túy (Heroine) trong tay phải của mình có trọng lượng cân được sau khi loại bỏ bao gói là 0,39g (Không phẩy ba mươi chín gam), bị cáo thừa nhận cất giấu với mục đích để sử dụng. Bị cáo không thuộc đối tượng đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế, không thuộc đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, không thuộc trường hợp trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo Lương Văn B đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025), theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các căn bệnh truyền nhiễm khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đã từng chấp hành án phạt tù, đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi liên quan đến chất ma túy, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo được giáo dục, có thời gian cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025), bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, sống phụ thuộc gia đình và đang bị tạm giam, không có tài sản riêng đảm bảo khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bản Mường Hin, xã T, tỉnh Nghệ An nhưng không xác định được danh tính, nhân thân, lai lịch, do đó không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Heroine) còn lại 0,21g (không phẩy hai mươi mốt gam) còn lại sau khi đã đưa đi giám định là chất thuộc danh mục cấm tàng trữ, sử dụng và lưu hành dưới mọi hình thức nên cần tiêu hủy. Những vật chứng còn lại gồm mảnh bao ni lông màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
    Xử phạt bị cáo Lương Văn B 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 21/8/2025.
  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) phong bì thư bưu điện bên trong đựng 0,21g (Không phẩy hai mươi mốt gam) ma túy Heroine, mảnh giấy ăn màu trắng, mảnh bao ni lông màu trắng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã được niêm phong lại theo quy định.
    (Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 11/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Nghệ An).
  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND khu vực 10 – Nghệ An;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Tiến, tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hà Văn Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: B là người nghiện chất ma túy chưa bị quản lý hoặc đưa đi cai nghiện tự nguyện hay bắt buộc, đang có 01 tiền án nhưng tiếp tục đi mua được 0,39 gam chất ma túy (Heroine) để sử dụng và trên đường về nhà bị bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger