Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 41/2026/DS-PT

Ngày: 21 - 01 - 2026

“V/v tranh chấp di sản thừa kế”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tú

Các thẩm phán: Ông Đỗ Thế Bình

Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và 21/01/2026, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 404/2025/TLPT- DS ngày 20/11/2025 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” do Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146/2025/QĐ-PT ngày 04/12/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2025/QĐ-PT ngày 19/12/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐ-PT ngày 06/01/2026 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Vũ Trí B, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện theo uỷ quyền của ông Vũ Trí B là: Ông Ngô Quang C, sinh năm 1983; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1994; bà Giáp Thị T, sinh năm 1995 (ông C, bà T có mặt, bà L vắng mặt)

Cùng địa chỉ: P, Tòa nhà T, số E T, phường Y, thành phố Hà Nội.

*Bị đơn: Ông Vũ Trí B1, sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Vũ Trí B1: Luật sư Ngọc Thị V - Công ty L3, đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh (có mặt)

Địa chỉ: Số I, đường Q, phường B, tỉnh Bắc Ninh

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1958 (có mặt). Địa chỉ: thôn H, xã C, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1959 (có mặt). Địa chỉ: tổ dân phố K, phường T, thành phố Hải Phòng.
  3. Ông Vũ Trí T1, sinh năm 1971 (có mặt). Địa chỉ: thôn T, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
  4. Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1963 (vắng mặt). Địa chỉ: thôn B, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
  5. Anh Vũ Trí B2, sinh năm 1983 (có mặt). Địa chỉ: số nhà A, tổ dân phố N, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
  6. Chị Vũ Thị D, sinh năm 1986 (có mặt). Địa chỉ: C, Tòa R, số G đường N, phường T, thành phố Hà Nội.
  7. Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Bắc Ninh; Do ông Tạ Văn T2- Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Đ theo pháp luật (vắng mặt)

Người kháng cáo: Ông Vũ Trí B1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 90/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa.

* Nguyên đơn ông Vũ Trí B, đại diện cho nguyên đơn ông Ngô Quang C, bà Giáp Thị T trình bày: Năm 1982, sau khi kết hôn vợ chồng ông làm đơn xin chính quyền thôn H, xã Đ (nay là xã C) cấp đất để làm nhà ra ở riêng. Chính quyền thôn xét duyệt, cắm tiêu, đo đạc và giao cho vợ chồng ông quản lý, sử dụng 400m² đất thổ cư. Đầu năm 1983, vợ chồng ông khai hoang thêm phần diện tích đất liền kề của một số hộ dân bỏ đi nơi khác do lũ lụt, ngập úng để làm vườn trồng cây ăn quả, cây lâu năm, phát triển kinh tế, diện tích khoảng 300m². Đầu năm 1987, được bố mẹ hỗ trợ, vợ chồng ông có xây dựng ngôi nhà 03 gian, tường gạch, lợp ngói. Đến năm 1987, vợ chồng ông mua thêm thửa đất và tài sản, hoa mầu trên đất của ông Vũ Trí C1 (đã chết), vợ là bà Nguyễn Thị N, diện tích khoảng trên 150m². Năm 1990, vợ chồng ông tiếp tục xây thêm một gian nhà ở và công trình phụ như bếp, giếng nước, nhà vệ sinh, tường vành lao. Đến thời điểm này diện tích đất vợ chồng ông quản lý, sử dụng khoảng 840m², có ranh giới rõ ràng, vợ chồng ông sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai.

Năm 2001, Ủy ban nhân dân xã C tổ chức đo đất để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình theo quy định. Năm 2003, vợ chồng ông được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 299m² đất thổ cư, phần đất còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông đã đến Ủy ban nhân dân xã C hỏi thì được biết một phần diện tích đất 247m² đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng em trai ông là Vũ Trí B1, bà Nguyễn Thị M. Sau khi biết sự việc, ông đã yêu cầu ông B1 giao lại giấy chứng nhận trên cho ông và ông đã đến Ủy ban nhân dân xã C yêu cầu cấp lại toàn bộ diện tích đất (299m² + 247m²) cho ông. Ủy ban nhân dân xã C đã làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông đúng diện tích đất thực tế ông đang sử dụng. Ngày 25/12/2006, Nhà nước đã cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Vũ Trí B, bà Nguyễn Thị V1, diện tích 546,0m², số AI 690505, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00004/4654/QĐ-UBND. Mặc dù đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng diện tích vẫn chưa đúng với diện tích thực tế vợ chồng ông đang quản lý, sử dụng. Ông đã liên hệ với Ủy ban nhân dân xã để hỏi thì được trả lời trên hồ sơ địa chính xã thể hiện diện tích như vậy, phần diện tích đất còn lại gia đình được sử dụng bình thường, sau này sẽ điều chỉnh sau.

Năm 2014, Ủy ban nhân dân xã C thực hiện việc nâng cấp mở đường, vận động gia đình ông hiến đất. Gia đình ông đồng ý dỡ bỏ 61,0m² tường vành lao và hiến 102,5m² đất. Năm 2021, Ủy ban nhân dân xã tiếp tục kế hoạch nâng cấp, mở rộng đường và vận động gia đình hiến đất. Gia đình ông đồng ý dỡ bỏ tiếp 31,5m² tường vành lao và hiến 22,5m² đất. Diện tích đất còn lại của gia đình ông sau khi hiến đất còn 840,2m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì diện tích là 841,5m²).

Năm 2024, sau khi biết được thông tin vợ chồng ông Vũ Trí B1, bà Nguyễn Thị M vẫn còn tên trên thửa đất có diện tích 247m² trong sổ địa chính xã, ông B1 đã yêu cầu vợ chồng ông trả lại ông B1 diện tích đất này. Vợ chồng ông đã mời các anh chị em trong gia đình họp bàn bạc, lập văn bản, dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phương, các anh chị em trong gia đình thống nhất để ông B1 sử dụng 147m², diện tích đất còn lại do vợ chồng ông toàn quyền quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, khi tiến hành phân chia, ông B1 lại không đồng ý, nên mới xảy ra tranh chấp.

Tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006, hộ gia đình ông gồm có 05 nhân khẩu là: Bố ông là cụ Vũ Trí T3, ông (Vũ Trí B), vợ ông là bà Nguyễn Thị V1, các con ông là anh Vũ Trí B2, chị Vũ Thị D, còn mẹ ông là cụ Dương Thị N1 đã chết từ năm 1987. Do diện tích 841,5m² đất là tài sản chung của hộ gia đình ông, trong đó bố ông có một phần là (841,5m²: 5)168,3m². Năm 2013, bố ông chết, không để lại di chúc, nên ông yêu cầu chia phần di sản của bố ông để lại là quyền sử dụng 168,3m² đất làm các phần bằng nhau cho các đồng thừa kế gồm: Ông (Vũ Trí B), các anh chị em ông là bà Vũ Thị L1, bà Vũ Thị Đ, ông Vũ Trí B1, ông Vũ Trí T1. Để thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng, ông đề nghị giao cho ông quản lý, sử dụng phần di sản của bố ông lại, ông sẽ có trách nhiệm trích chia trả các đồng thừa kế khác bằng tiền tương đương với phần di sản được hưởng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V1 và đại diện UBND xã C không kháng cáo, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

[2]. Đơn kháng cáo của bị đơn ông Vũ Trí B1 nộp trong thời hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục nộp tiền được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[3]. Xét nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn ông Vũ Trí B1, HĐXX thấy:

Năm 1982, ông Vũ Trí B kết hôn với bà Nguyễn Thị V1. Theo chủ trương chung của địa phương thời điểm này, vợ chồng nào muốn có đất để ra ở riêng thì đăng ký với chính quyền địa phương. Vợ chồng ông Vũ Trí B có nguyện vọng ra ở riêng nên đã được chính quyền địa phương cấp cho 400m² đất ở, quá trình sử dụng vợ chồng ông B khai hoang, mở rộng và mua lại của của vợ chồng ông Vũ Trí C1, bà Nguyễn Thị N, thành tổng số diện tích đất sử dụng lên là 841,5m², có ranh giới rõ ràng, vợ chồng ông B quản lý, sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai. Năm 1987, mẹ ông B là cụ Dương Thị N1 chết, cụ Vũ Trí T3 cùng với các con trong gia đình đã chuyển về ở với vợ chồng ông B, bà V2 cho đến khi các chị, em trong gia đình xây dựng gia đình riêng.

Năm 2003, một phần diện tích đất trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Trí B1 là em trai của ông B với diện tích là 247m², cấp cho hộ ông Vũ Trí B diện tích là 299m². Sau khi phát hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B1 là không đúng, ông B đã có ý kiến với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Bắc Ninh). Qua xem xét kiểm tra lại hồ sơ thấy có sai sót, Ủy ban nhân dân xã đã làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận của 02 thửa đất trên cho hộ ông B. Ngày 25/12/2006, 02 thửa đất trên đã được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Vũ Trí B, bà Nguyễn Thị V2, số AI690505, theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H0000/4654/QĐ-UBND, trong đó có 250m² đất ở, 188,6m² đất vườn, 107,4m² đất thuộc hành lang giao thông. Diện tích đất có sự chênh lệch giữa diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất thực tế sử dụng là do quá trình đo đạc có sự sai số, trước đây đo bằng thủ công.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm, cụ thể như sau:

[3.1]. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông Đào Quang D1 - Cán bộ Phòng T7 là người đại diện theo uỷ quyền của Chủ tịch UBND huyện L trình bày: Thửa đất trong vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế trên theo kết quả đo đạc hiện trạng có diện tích là 773,3 m², được hình thành từ 02 thửa đất.

Thửa thứ nhất: Nguồn gốc do thôn giao cho ông Vũ Trí B theo chính sách ở thôn khi đó lập gia đình và tách hộ ra ở riêng thì được chia, cấp đất. Sau này thửa đất đã được UBND huyện L cấp GNQSD đất theo Quyết định số 2798/QĐ- CT ngày 12/12/2003, GCN có số phát hành Đ 790897, số vào sổ 01388, diện tích 299m² đất ONT, chủ sử dụng là hộ ông Vũ Trí B.

Thửa thứ hai: Nguồn gốc ban đầu do thôn chia cấp cho ông Vũ Trí C1 và vợ là bà Nguyễn Thị N, cùng trú tại thôn H, xã Đ. Khoảng năm 1987 gia đình ông C1 bà N bán cho gia đình ông B, khi đó bố ông B là cụ Vũ Trí T3 còn sống. Việc mua bán không có giấy tờ, thời điểm mua bán thửa đất chưa được cấp GCNQSD đất. Thửa đất trên sau này được UBND huyện L cấp GNQSD đất theo Quyết định số 2798/QĐ- CT ngày 12/12/2003, GCN có số vào sổ 01389, diện tích 247m² đất ONT, chủ sử dụng là hộ ông Vũ Trí B1 là em trai ông B.

Ngày 25/12/2006 UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất số seri AI 690505, số vào sổ cấp GCNQSD đất H 0004, theo Quyết định số 4654/QĐ-UBND, diện tích 546,0m² (trong đó đất ONT 250m²; đất CLN 188,6m²; HLGT 107,4m²); thời hạn sử dụng đất: lâu dài; nguồn gốc sử dụng đất: Công nhận quyền sử dụng đất; chủ sử dụng là hộ ông Vũ Trí B, sinh năm 1962, bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1963.

- Như vậy, hồ sơ cấp GCNQSD đất có diện tích 546,0m² theo Quyết định số 4654/QĐ-UBND ngày 25/12/2006 không đảm bảo quy định pháp luật. Vì diện tích 546,0m² trên được cộng gộp diện tích của 02 thửa đất đã được cấp GCNQSD đất ở (299m² cho hộ ông Vũ Trí B và 247 m² cho hộ ông Vũ Trí B1). Không có giấy tờ thủ tục về việc chuyển quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất, hợp thửa đất, không có Quyết định thu hồi 02 GCNQSD đất đã cấp trước đó. Hiện tại vẫn đang tồn tại 03 giấy chứng nhận trên diện tích đất tranh chấp nêu trên.

Theo ông Vũ Trí T5 nguyên là cán bộ địa chính xã C thể hiện: Khoảng năm 2002-2003 UBND xã Đan Hội cũ phối hợp với Trung tâm đo đạc của tỉnh Bắc Giang tổ chức đo đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đo tính diện tích đất của ông Vũ Trí B là 546m². Năm 2004 trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, trong đó hộ ông Vũ Trí B, diện tích chỉ có 299m². Sau khi ông Vũ Trí B nhận giấy chứng nhận, phát hiện gia đình còn thiếu diện tích là 247m² đã cấp cho ông Vũ Trí B1 đứng tên chủ hộ gia đình, vợ là Nguyễn Thị M1. Sau khi tìm hiểu được biết bà Vũ Thị L1 là chị gái ông B đã tự ý trao đổi với cán bộ đo đất để tách ra làm 02 thửa, mục đích không phải đóng thuế đất như các hộ khác trong thôn. Ông Vũ Trí B không đồng ý và khẳng định toàn bộ diện tích 546 m² là của gia đình ông và không đồng ý cắt 247 m² cho ông B1 và bà M1 đứng tên là sai không đúng với luật đất đai. Ông Vũ Trí B đề nghị UBND xã Đ, L tại thời điểm đó ông Nguyễn Đình L2 làm Chủ tịch xã, ông Vũ Trí T5 - Cán bộ địa chính xã cấp lại theo đúng diện tích đất ông B ở và sử dụng như đã đo đạc thời điểm 2002-2003.

Như vậy, thửa đất có diện tích 247m² được cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Vũ Trí B1 năm 2003, ngoài ông B1 và vợ là bà Nguyễn Thị M1 thì còn có các thành viên trong gia đình ông B1, chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh làm rõ để đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những thành viên hộ gia đình ông B1, vi phạm Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.2]. Bản án sơ thẩm kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vũ Trí B năm 2003 với diện tích 299m² và ông Vũ Trí B1 năm 2003 đối với thửa đất có diện tích 247m² và chưa xem xét đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Vũ Trí B, bà Nguyễn Thị V2 năm 2006 đã thực hiện chia di sản thừa kế là không đúng quy định tại Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo đại diện ủy quyền của UBND huyện L thể hiện trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 cho hộ gia đình ông B, ông B1 là đúng quy định pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Nguồn gốc thửa đất là của vợ chồng ông Vũ Trí B, các đương sự, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cung cấp được bản sao hoặc bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Trí B, ông Vũ Trí B1 năm 2003; theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông B là đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có quyết định thu hồi 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông B và ông B1 năm 2003 là thiếu sót của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Tòa án cấp sơ thẩm kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hộ ông Vũ Trí B năm 2003 với diện tích 299m², ông Vũ Trí B1 năm 2003 với diện tích 247m² theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật đất đai 2024, Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/07/2024 của Chính phủ. Việc Tòa án kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2003, đây là quyết định cá biệt mà không tuyên hủy là vi phạm Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quyết định cấp giấy chứng nhận năm 2006 đối với diện tích gộp của hai thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận năm 2003 nhưng chưa thu hồi giấy chứng nhận năm 2003. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là đúng trình tự, thủ tục, chỉ là thiếu sót của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là không có căn cứ theo quy định của luật đất đai. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 là không đúng trình tự, thủ tục của luật đất đai nên cần thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này theo quy định của luật đất đai và Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3.3]. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ về mục đích sử dụng đất hiện đang có tranh chấp mà chỉ căn cứ vào mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2006 để xác định loại đất là chưa đảm bảo chứng cứ giải quyết vụ án.

Năm 2003, hộ gia đình ông B được cấp 299m² đất thổ cư và hộ gia đình ông B1 được cấp 247m² đất thổ cư. Đến năm 2006 diện tích đất của hai thửa cấp năm 2003 gộp thành một thửa cấp cho hộ gia đình ông B là 546m² đất trong đó đất thổ cư là 250m², đất vườn là 188,6m² và đất hành lang giao thông là 107,4m². Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ lý do tại sao từ hai giấy chứng nhận năm 2003, được cấp đất thổ cư khi gộp lại thành một số cấp năm 2006 diện tích đất thổ cư lại bị cắt giảm chuyển sang đất vườn. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định hiện trạng đất hiện nay là 773,3m² đất trong đó diện tích đất thổ cư là 250m², còn lại đất vườn là 523,3m² là chưa có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đương sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Bản án sơ thẩm đưa thiếu người tham gia tố tụng, chưa xác minh làm rõ các thành viên hộ gia đình của ông Vũ Trí B1, diện tích đất thổ cư chuyển sang đất vườn và không hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định cá biệt là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không khắc phục được, cần huỷ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX huỷ bản án sơ thẩm là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[5]. Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản được xác định lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án.

Về án phí DSPT: Do huỷ bản án sơ thẩm nên ông Vũ Trí B1 không phải chịu án phí DSPT theo quy định khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

    Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Trí B1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 90/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng thẩm định, định giá tài sản được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại ông Vũ Trí B1 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001370 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Bắc Ninh;

- Toà án nhân dân KV4 - Bắc Ninh;

- Phòng THADS KV4 - Bắc Ninh;

- Cổng thông tin điện tử TANDTC;

- Các đương sự;

- Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp di sản thừa kế

  • Số bản án: 41/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger