Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 41/2026/DS-PT

Ngày: 16-01-2026

V/v: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Đào

Các Thẩm phán: Bà Bùi Lan Hương

Ông Trần Nam Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026 tại Hội trường 3 - trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 662/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 610/2025/QĐ-PT ngày 15/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/QĐ-PT ngày 09/01/2026, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1964.
  • Địa chỉ: số nhà F, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).
  • - Bị đơn: Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1961.
  • Địa chỉ: khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Huỳnh Hồ Minh H2 thuộc Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1. Bà Lê Thị G, sinh năm 1966, (chết ngày 21-02-2025).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị G:

  • - Ông Lê Hữu T, sinh năm 1962;
  • - Bà Lê Thị Kiều V, sinh năm 1990.
  • Cùng nơi thường trú: khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai.
  • Cùng địa chỉ liên hệ: khu phố B, phường B, tỉnh Đồng Nai (đối diện miếu ông H3);
  • - Bà Lê Thị Thu H4, sinh năm 1991.
  • Địa chỉ liên hệ: số nhà B, đường H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Kiều V, bà Lê Thị Thu H4: bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1962. (Văn bản ủy quyền ngày 09/01/2026, ngày 25/7/2025, ngày 24/7/2025).

Địa chỉ: số nhà F, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).

2. Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1969.

Địa chỉ: số nhà F, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).

3. Bà Lê Thị N, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Ấp L, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã T, tỉnh Khánh Hòa).

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Ú, bà N: bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1962. (Văn bản ủy quyền ngày 16-4-2021).

Địa chỉ: số nhà F, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai)

4. Bà Lê Thị Mỹ P, sinh năm 1982.

Địa chỉ: F, Khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).

5. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1984.

Địa chỉ: F, Khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).

6. Bà Lê Thị Mỹ P1, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là phường T, tỉnh Hưng Yên).

Người đại diện theo ủy quyền của bà P1: bà Bùi Thị H1, sinh năm 1961.

Địa chỉ: khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).

Người kháng cáo: nguyên đơn ông Lê Văn H.

(Ông H, bà H1, bà Á, bà P1, ông T1, Luật sư H2 có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-8-2020, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày, tranh luận:

Cha mẹ ông là cụ Lê Văn C, sinh năm 1926, chết năm 1995 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1939, chết năm 2006. Sinh thời cha mẹ ông có 05 người con gồm: bà Lê Thị N, sinh năm 1956, ông Lê Văn N2, sinh năm 1963 (chết năm 1999), Lê Văn H, sinh năm 1964, Lê Thị G, sinh năm 1966 (chết năm 2025) và Lê Thị Ú, sinh năm 1969.

Năm 1976, cha ông lúc này là công nhân nhà máy Đ, cha mẹ có khai hoang được diện tích đất khoảng 400m2, diện tích đất tọa lạc tại: Khu phố C, phường X, thành phố L (nay là phường L), Đồng Nai.

Năm 1985, Nhà máy đèn (Công ty Đ1) ra quyết định giao đất để tiến hành xây dựng nhà ở, sau đó cha ông cũng đã được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà ở số 1318/CN/SHN ngày 04-11-1985, với diện tích nhà ở là 46m² cùng diện tích sân vườn với tứ cận như sau:

  • - Đông giáp: Hàng rào điện lực;
  • - Tây giáp: Quốc lộ A;
  • - Nam giáp: Nhà ông T2;
  • - Bắc giáp: Đường B;

Diện tích đất được cấp thuộc tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L).

Đến khoảng năm 1985, khi ông Lê Văn N2 kết hôn cùng với bà Bùi Thị H1, thì cha mẹ tách một phần đất để xây dựng nhà trên cùng tờ bản đồ số 11 (nay là tờ số 70), cùng năm 1985, ông N2 được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà ở số 3636 CN/SHN ngày 20-12-1985, với diện tích nhà ở là 33m².

Vào năm 1991, cha mẹ ông H chuyển nhượng cho ông Trần Ngọc Anh T3 (là con rể của ông T2) một phần đất phía sau với diện tích đất khoảng 20m².

Đến năm 1993, khi bà Lê Thị G lập gia đình, cha mẹ ông H tiếp tục tách cho bà Lê Thị G diện tích 54m² nằm trên tờ bản đồ số 11 (nay là tờ bản đồ số 70), bà G sau đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1325 GCN/QĐ ngày 14-02-1993.

Vào thời điểm Tháng 4-2006, cha mẹ ông H kê khai lại toàn bộ số đất khai hoang còn lại của thửa đất 31, tờ bản đồ số 11 và diện tích 116,5m² thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay thuộc tờ số 70, BĐĐC phường X), phần đất 116,5m² thuộc thửa 35, tờ bản đồ số 11 có vị trí nằm phía sau, tiếp giáp phần đất cha mẹ ông H đã cho ông N2 vào năm 1985, không có lối đi. Phần đất 116,5m² này trước đó (không rõ thời điểm), cha mẹ ông H có ý định tặng cho bà Lê Thị N, nhưng bà N không nhận vì đất không có lối đi.

Đến ngày 22-12-2006, Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là phường L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 148,3m² thửa đất 31, tờ bản đồ số 11,

BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L), đứng tên “hộ bà Nguyễn Thị N1”, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 00762.

Đối với diện tích đất 116,5m² thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) là phần đất sử dụng chung thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì thời điểm này bà Bùi Thị H1 (vợ ông N2) cũng tiến hành kê khai, đăng ký đối với toàn bộ thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X, trong đó có cả phần diện tích 116,5m².

Theo ông H, thì cha mẹ ông sau khi cho đất các con, thì đến thời điểm hiện nay, vẫn còn lại phần diện tích đất 116,5m² có vị trí phía sau tiếp giáp nhà, đất đã cho ông N2 vào năm 1985, hiện nay thuộc một phần của thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X. Toàn bộ thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X, trong đó có diện tích 116,5m² hiện đang do bà H1 quản lý.

Nay, ông H yêu cầu xác định diện tích 116,5m² (được đo đạc theo sự chỉ dẫn của ông H) thuộc một phần của thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) là di sản của cha mẹ (cụ C và cụ N1) để lại, cha mẹ ông không có di chúc đối với phần di sản này, nên ông H đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật. Yêu cầu chia di sản nêu trên cho 05 thừa kế, gồm có ông Lê Văn H, bà Lê Thị N, ông Lê Văn N2, sinh năm 1963 (do các con ông N2 nhận thay phần thừa kế), bà Lê Thị G, bà Lê Thị Út . Ông H yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật, đồng ý thanh toán bằng giá trị cho đồng thừa kế.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông H yêu cầu Tòa án tiến hành đo đạc, nhưng kết quả đo đạc theo chỉ dẫn của ông thể hiện tại Trích lục 2102/2023 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 lập ngày 30-6-2023 không thể hiện cụ thể phần đất tranh chấp, nên ông H đề nghị Tòa án căn cứ kết quả quả đo đạc mà ông đã tiến hành chỉ dẫn thể hiện tại Trích lục vào đo vẽ hiện trạng khu đất BĐĐC do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 lập ngày 12-6-2014, kết quả đo đạc này do ông H trực tiếp chỉ dẫn tại thời điểm ông khởi kiện đối với bà H1, yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất, (diện tích đất ông yêu cầu đo đạc tại thời điểm khởi kiện kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất vào năm 2013 cũng chính là đối tượng tranh chấp trong vụ án yêu cầu chia di sản thừa kế này), kết quả đo đạc được trích lục từ hồ sơ vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 48/2020/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa 31, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L), ông H không đồng ý vì diện tích đất này cụ N1 đã lập di chúc để lại cho 04 anh chị em trong gia đình vào năm 2002, di chúc không có tên ông Lê Văn N2.

Đối với chi phí tố tụng, ông H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

-Tại các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà Bùi Thị H1 trình bày, tranh luận:

Bà H1 là vợ ông Lê Văn N2, vợ chồng bà kết hôn trước năm 1984, cha mẹ chồng của bà là cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1, cụ C chết năm 1995, cụ N1 chết năm 2006. Về hàng thừa kế thứ nhất của bên nhà chồng có 05 thừa kế như lời khai của ông H là đúng sự thật, ngoài ra cha mẹ chồng bà không còn con nuôi, con riêng nào

khác. Chồng bà (ông Lê Văn N2) chết do bệnh vào năm 1999, vợ chồng bà có 03 người con, gồm: Lê Thị Mỹ P, Lê Thị Mỹ P1, Lê Văn T1.

Về nguồn gốc tranh chấp trong vụ án này thuộc một phần đất do cha mẹ chồng khai phá. Trong diện tích do cha mẹ chồng khai phá, thì vào ngày 04-01-1985, Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp cho cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 diện tích nhà 46m², diện tích sân vườn là 120m² (hiện nay thuộc thửa số 31).

Cùng năm 1985, cha mẹ chồng cho vợ chồng bà H1 một phần diện tích đất đã khai phá trước đó để tiến hành xây dựng nhà ở. Vợ chồng bà tiến hành xây dựng nhà ở và được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà cho diện tích xây dựng 33m², diện tích sân vườn là 47m². Điều này đã được phía ông H, bà G, bà N, bà Ú thừa nhận tại hồ sơ tranh chấp quyền sử dụng đất do Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh thụ lý vào năm 2013, sau đó, ông H kháng cáo, nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vào năm 2020.

Ngày 20-12-1985, vợ chồng bà H1 được Ty xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 2036/CN.SHN đối với phần đất cha mẹ cho. Từ năm 1997 cho đến nay, bà H1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất 168,8m² thuộc thửa đất số 35 tờ bản đồ 11, BĐĐC phường X (nay thuộc tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L).

Vào ngày 25-10-1993, cụ C viết giấy ủy quyền cho con gái là bà Lê Thị G diện tích đất 54m², bà G được cấp giấy chứng nhận việc chuyển quyền sử dụng đất đối với 54m² vào ngày 14-12-1993. Như vậy, từ ngày 04-01-1985 cụ N1 và cụ C chỉ còn diện tích sân vườn 120m² trừ đi 54m² cho bà G thì cụ C và cụ N1 chỉ còn lại diện tích đất là 66m². Sau đó, cụ C bán lại cho ông T2 (cha vợ của ông T1).

Cha chồng bà chết không để lại di chúc, Bản di chúc của mẹ chồng được lập ngày 16-12-2002 không xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của cha mẹ chồng. Quá trình bà H1 quản lý, sử dụng diện tích đất tại thửa 35 không có ai tranh chấp hay có ý kiến gì.

Ngày 08-3-2000, bà H1 kê khai, đăng ký lần đầu đối với toàn bộ diện tích đất thuộc thửa 35, tờ bản đồ số 43 BĐĐC thị trấn X (cũ) (thuộc thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X, nay thuộc tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường Long Khánh) nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến năm 2006, khi bà H1 kê khai, đăng ký lần hai đối vớ thửa 35, tờ bản đồ 11 BĐĐC phường X (theo biên nhận hồ sơ số 1021/VPĐK-QDSĐ ngày 10-4-2006) thì biết được ông H có ký tên thay cho mẹ chồng (cụ N1) kê khai đối với thửa 35, tờ bản đồ 11 BĐĐC phường X (theo biên nhận hồ sơ số 1441/VPĐK-QDSĐ ngày 17-4-2006). Thời điểm này, cụ N1 đã bị bệnh nặng và mất trong năm nay nên có thể đây là ý chí của nguyên đơn ông Lê Văn H, vì trước năm 2006, cụ N1 hoàn toàn không tranh chấp gì đối với bà H1 đối với thửa 35.

Bà H1 xác định, bà trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ đối với diện tích 168,8m², còn ông Lê Văn H có thực hiện nghĩa vụ đóng thuế vào các năm 2010, 2011 nhưng không rõ cho số tờ bản đồ và thửa đất; từ năm 2012 đến 2017 ông H có đóng thuế đối với thửa 35, tờ bản đồ 11 theo biên lai thu số 044683 ngày 22-9-2017. Ông H kê khai, nộp thuế sử dụng đất sau khi nộp đơn khởi kiện đòi bà H1 trả lại diện tích đất này (nộp thuế theo diện truy thu thuế) để có tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án vào thời điểm năm 2013.

Diện tích đất 168,8m² thuộc thửa 35, tờ bản đồ 11 là do cụ N1 và cụ C cho vợ chồng bà. Mặc dù giấy tờ được cấp năm 1985 có tổng diện tích là 80m² nhưng vợ chồng ông bà sử dụng ổn định từ trước đến nay và tứ cận đất được xác định theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 2036/CN.SHN so như tứ cận hiện nay là đúng. Về việc diện tích đất hiện nay có tăng hơn diện tích được cấp trước đây cho rằng do chênh lệch giữa các lần đo vẽ. Ngoài ra, về tứ cận đất phù hợp với lời khai của ông Trần Ngọc Anh T3 (con rể ông T2) cũng xác định ranh đất nhà ông (thửa 34) giáp với đất nhà ông N2 - Hướng bắc: Năm 1991 ông mua một miếng đất phía sau thửa 34 của ông C với giá 1,5 chỉ vàng. Ông C viết giấy tay bán đất ghi rõ “từ hàng rào con N1 sang hàng rào con Chình, bề dài từ đuôi nhà N1 dài đến hàng rào nhà máy điện”, “Chình” là tên thường gọi của bà H1.

Trong quá trình làm việc nhiều lần tại nhiều cấp xét xử, phía ông H, bà G, bà N, bà Ú cũng đã xác định: Năm 2006 hộ bà Nguyễn Thị N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích 148,3m² đất tại thửa 31, tờ bản đồ 11, BĐĐC phường X. Phần diện tích được cấp giấy không có phần đất tranh chấp (phần đất của gia đình bà). Cụ N1 chỉ kê khai đối với thửa 35, tờ bản đồ 11 vào ngày 17-4-2006 và không kê khai thêm lần nào khác.

Mặt khác, vào năm 1998, bà H1 có làm hồ sơ đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 35, tại biên bản xác định ranh mốc, vị trí cột mốc từ 1 đến 7 thì ông Lê Văn H5 (H) là người ký xác nhận hộ giáp ranh. Năm 2000, bà H1 còn có đơn đăng ký quyền sử dụng đất đối với 13m² đất do UBND huyện X cấp ngày 29-10-1985 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 43 địa chỉ số nhà Y, khu X, thị trấn X (cũ). Diện tích đất bà H1 kê khai là một phần thửa đất tranh chấp, sát ranh nhà máy đèn, ông T3, bà C1. Do thời điểm kê khai nhà nước có quyết định quy hoạch đường quốc lộ 1A nên bà H1 chỉ kê khai đối với phần diện tích còn lại. Đến năm 2002, nhà nước bỏ quy hoạch nên năm 2006, bà H1 mới kê khai đăng ký đối với toàn bộ diện tích đối với thửa 35, tờ bản đồ 11, BĐĐC phường X.

Trong hồ sơ khởi kiện trước đây, Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai) cũng đã thu thập tài liệu về thông tin này tại UBND phường X thể hiện nội dung: Bà H1 kê khai đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 43, BĐĐC thị trấn X (cũ) vào ngày 08-3-2000; Bà Nguyễn Thị N1 kê khai vào ngày 17-01-2000 tại thửa đất số 31, tờ bản đồ số 43 BĐĐC thị trấn X (cũ) (nay là thửa đất số 31, tờ bản đồ số 11 BĐĐC phường X) đã được UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận cho Hộ bà Nguyễn Thị N1 ngày 22-12-2006. Đến năm 2006, Nhà nước tổ chức kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần hai: Bà Bùi Thị H1 tiếp tục kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại thửa đất số 35, tờ bản đồ 11, BĐĐC phường X (thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 43, BĐĐC thị trấn X cũ). Bà Nguyễn Thị N1 kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại thửa đất số 35, tờ bản đồ 11, BĐĐC phường X (thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 43, BĐĐC thị trấn X cũ).

Trong vụ án “tranh chấp quyền sử dụng đất” mà ông H khởi kiện trước đây, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh cũng đã có công văn yêu cầu Chi cục thuế thành phố L sao lục hồ sơ kê khai đăng ký thuế của bà Nguyễn Thị N1 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ 11 tọa lạc tại phường X nhưng cơ quan thuế xác định “Theo hồ sơ lưu trữ tại cơ quan thuế thì bà Nguyễn Thị N1 không kê khai nộp thuế nhà đất đối với thửa đất này”. Chi cục thuế thành phố L căn cứ vào phần xác nhận của UBND phường X ở tờ kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của bà Bùi Thị H1, ông Lê Văn H để làm

căn cứ lập bộ thuế.

Do không đủ cơ sở để xác định diện tích đất 116,5m² đất thuộc thửa 35, tờ bản đồ 11 tọa lạc tại phường X là của cụ C và cụ N1, nên qua hai lần xét xử sơ thẩm, Tòa án đều bác yêu cầu khởi kiện của ông H.

Đến nay ông H lại tiếp tục khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với thửa 35, tờ bản đồ 11 tại phường X (nay là phường L) do bà H1 đang quản lý sử dụng thì bà H1 không đồng ý với yêu cầu của phía nguyên đơn. Nếu nguyên đơn yêu cầu chia nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh đây là di sản của cụ C, cụ N1 chưa định đoạt. Bà H1 khẳng định tài sản này là tài sản của bà H1 và các con. Di sản cụ C, cụ N1 chỉ còn thửa số 31, tờ bản đồ 11 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị N1.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ú, bà Lê Thị N và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị G gồm ông Lê Hữu T, Lê Thị Hồng V1, Lê Thị Thu H4 (do bà Nguyễn Thị Á, vợ nguyên đơn đại diện) trình bày:

Bà G, bà N, bà Ú là con ruột của cụ Lê Văn C, sinh năm 1926, chết năm 1995 và cụ Nguyễn Thị N1, sinh năm 1939, chết năm 2006. Cha, mẹ các bà có 05 người con như nguyên đơn khai là đúng, ngoài ra cha, mẹ các bà không còn con nuôi, con riêng nào khác. Bà G chết năm 2025, hàng thừa kế thứ nhất của bà G có chồng là ông Lê Hữu T, các con là Lê Thị Kiều V, sinh năm 1990, Lê Thị Thu H4, sinh năm 1991.

Di sản của cụ C, cụ Nghĩa là phần đất phía sau của thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L), có diện tích được đo đạc vào năm 2014 là 116,5m².

Bà G, bà N, bà Ú có ý kiến thống Nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị xác định quyền sử dụng đất có diện tích 116,5m² thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) là di sản của cụ C, cụ N1 để lại, yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật cho 05 thừa kế, mỗi thừa kế một phần bằng nhau.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Mỹ P1 (do bà Bùi Thị H1 đại diện), ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Mỹ P trình bày, tranh luận:

Chị P1, chị P và anh T1 là con ruột của ông Lê Văn N2 (ông N2 chết do bệnh vào năm 1999) và bà Bùi Thị H1 (bị đơn trong vụ án). Ngoài ra, cha mẹ không còn con nuôi, con riêng nào khác. Cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị Nghĩa L ông bà nội của các anh chị.

Hiện nay chị P và anh T1 đang sống cùng bà H1 trên diện tích đất thuộc thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L). Theo như anh chị được biết thì nguồn gốc diện tích đất nêu trên là của cụ C, cụ N1, đã tặng cho cha mẹ các anh chị từ năm 1985. Từ nhỏ, các anh chị sống cùng cha, mẹ trên diện tích đất này, không thấy ai tranh chấp.

Năm 1999 cha của các anh chị (ông Lê Văn N2 chết), năm 2006 bà nội (cụ N1) chết. Ngoài phần diện tích ông bà nội đã cho cha, mẹ các anh chị, thì ông bà nội chỉ còn lại diện tích đất 148,3m² thuộc thửa 31, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L), hiện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị N1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, với tư cách là thừa kế thế vị của ông Lê Văn

N2, thì chị P1, chị P và anh T1 có đơn yêu cầu độc lập về việc yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất 148,3m² thuộc thửa 31, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L). Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ, các anh chị tự nguyện rút yêu cầu độc lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị P1, chị P và anh T1 thống nhất với ý kiến trình bày của mẹ là bà Bùi Thị H1, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì đất tranh chấp là tài sản của cha mẹ, không phải là di sản thừa kế của ông bà nội.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, về việc tranh chấp về chia thừa kế tài sản đối với diện tích đất 116,5m², được giới hạn bởi các điểm (3, 4, 5, 6, 7, 8, 3) thể hiện tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 lập ngày 12-6-2014, thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) với bị đơn bà Bùi Thị H1.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P1 và ông Lê Văn T1 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản đối với diện tích đất 148m² thuộc thửa 31, tờ bản đồ 11 BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) với nguyên đơn ông Lê Văn H, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu câu độc lập.

Bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P1, ông Lê Văn T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu đã rút theo thủ tục chung.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 03/10/2025 nguyên đơn ông Lê Văn H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

-Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp do cụ C và cụ N1 cho gia đình ông Lê Văn N2 bà Bùi Thị H1 từ 1985, gia đình đã đăng ký kê khai toàn bộ thửa 35 nhưng năm 1985 mới chỉ được cấp quyền sở hữu nhà, sau đó gia đình đã kê khai nhưng do thời điểm có quy hoạch Quốc lộ A nên không cho đăng ký đất dôi dư và đến năm 2000 cho đăng ký lại thì bà H1 đã đăng ký kê khai do lúc này ông N2 mất. Việc nguyên đơn ông H cho rằng có tranh chấp từ năm 2000 cụ N1 có đơn khiếu nại nhưng ông H không có chứng cứ chứng minh. Ngày 10/4/2026 bà H1 tiếp tục đăng ký kê khai và ngày 17/4/2006 ông H cũng kê khai lúc này cụ N1 còn sống nhưng ông H lại đi kê khai là không đúng. Năm 2013 các bên tranh chấp quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất. Thực tế từ 1985 đến 2013 bà H1 sử dụng quản lý đất và đóng thuế hàng năm. Nguyên đơn ông H cho rằng di chúc chỉ cho ông N2 80m² còn lại 80m² không phải là của ông N2, Án sơ thẩm đã làm rõ các tình tiết về việc đóng thuế, truy thu thuế và việc khiếu nại của

nguyên đơn cũng như khiếu nại của cụ N1. Nên không có căn cứ đây là di sản thừa kế của nguyên đơn. Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn và bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Năm 1985, cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 cho ông Lê Văn N2 (chồng bà H1) 80m² đất và ông N2 đã được Ty xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 2036/CN-SHN ngày 20/12/1985 với diện tích xây dựng 33m², diện tích vườn, sân được phép sử dụng 47m². Nội dung này nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận.

Mặc dù, diện tích đất ông N2, bà H1 sử dụng thực tế tăng so với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp năm 1985, từ 80m² lên 168,8m² nhưng từ năm 1985 cho đến thời điểm xảy ra tranh chấp, ông N2, bà H1 sử dụng đất ổn định, lâu dài và không có tranh chấp, xác định tứ cận vườn, sân được phép sử dụng đúng với hiện trạng đất hiện tại bị đơn sử dụng. Năm 1998, bà H1 làm hồ sơ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa 35, tờ bản đồ số 11, tại Biên bản xác định ranh mốc, vị trí từ 1 đến 7 ông Lê Văn H ký xác nhận hộ giáp ranh, ngoài ra tại Bản di chúc cụ N1 lập ngày 16/12/2002 cũng không đề cập đến diện tích đất tranh chấp. Đồng thời các đương sự đều xác định diện tích đất tranh chấp do bị đơn sử dụng và đóng thuế từ trước cho đến nay.

Trong thửa đất 35 có 80m² đất đã được cấp giấy chứng nhận, nguồn gốc là cụ C và cụ N1 cho ông N2, nhưng đối với diện tích đất tăng thêm, mặc dù bị đơn không chứng minh được nguồn gốc tuy nhiên toàn bộ diện tích của thửa 35 do bị đơn quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài và đóng thuế từ năm 1985 cho đến thời điểm tranh chấp, quá trình này không xảy ra tranh chấp với ai, nội dung này đã được các đương sự thừa nhận.

Phía nguyên đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp (116,5m²) là của cụ C và cụ N1 chưa chia, tuy nhiên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh, không được bị đơn thừa nhận, do đó không có cơ sở để xác định phần diện tích đất tranh chấp là của cụ N1 và cụ C chưa chia. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế do cha mẹ ông là cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 để lại là diện tích đất 116,6m², thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, bản đồ địa chính phường X (nay là phường

L). Tòa án sơ thẩm xét xử là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Văn H làm trong hạn luật định, và ông H là người cao tuổi nên được miễn tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung: Nguyên đơn ông H yêu cầu chia thừa kế của cha mẹ ông là cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 để lại đối với diện tích đất 116,5m², thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là phường L) chia làm 05 phần bằng nhau cho bà Lê Thị N, ông Lê Văn H, bà Lê Thị Ú, hàng thừa kế thứ nhất của bà G và hàng thừa kế thứ nhất của ông N2.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P1, ông Lê Văn T1 có yêu cầu độc lập về việc yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ Lê Văn C, cụ Nguyễn Thị N1 để lại đối với diện tích đất 148m² thuộc thửa 31, tờ bản đồ 11 BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L). Tuy nhiên, ngày 18-7-2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp đơn rút toàn bộ yêu cầu độc lập, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. [3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và hàng thừa kế: Cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.
  2. [4] Về yêu cầu kháng cáo: Ông H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Qua các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ thể hiện:

Diện tích đất 116,5m², thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là phường L) được giới hạn bởi các điểm (3, 4, 5, 6, 7, 8, 3) thể hiện tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 lập ngày 12/6/2014 nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo nguyên đơn khai thì diện tích cụ C, cụ N1 được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà ở số 1318/CN/SHN ngày 04-11-1985 là 46m² diện tích nhà ở và 120m² diện tích sân vườn.

Năm 1985, cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 cho ông Lê Văn N2 (chồng bà H1) 80m² đất và ông N2 đã được Ty Xây dựng tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 2036/CN-SHN ngày 20-12-1985 với diện tích xây dựng

33m², diện tích vườn, sân được phép sử dụng 47m². Nội dung này nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận.

Vào năm 1991, cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 chuyển nhượng cho ông Trần Ngọc Anh T3 (là con rể của ông T2) một phần đất phía sau với diện tích đất khoảng 20m².

Đến năm 1993, khi bà Lê Thị G lập gia đình, cụ Lê Văn C và cụ Nguyễn Thị N1 tiếp tục tách cho bà Lê Thị G diện tích 54m² nằm trên tờ bản đồ số 11 (nay là tờ bản đồ số 70), bà G sau đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1325 GCN/QĐ ngày 14-02-1993.

Năm 2006, Ủy ban nhân dân thị xã L (nay là phường L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 148,3m² thửa đất 31, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L), đứng tên “hộ bà Nguyễn Thị N1”, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 00762. Diện tích còn lại 116,5m², thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường Xuân Bình gia đình sử dụng chung chưa được cấp giấy chứng nhận.

Xét thấy quá trình kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân phường X cung cấp, thì tại thời điểm năm 2000, nguyên đơn và bị đơn đều tiến hành kê khai, đăng ký đối với diện tích đất mà họ đang quản lý, sử dụng. Nguyên đơn cho rằng diện tích đất thuộc thửa 35 là tài sản của cụ N1, cụ C, nhưng thời điểm này cụ N1 chỉ tiến hành kê khai đối với thửa 31; đối với thửa 35, bị đơn bà H1 kê khai, đăng ký cùng thời điểm với cụ N1 đăng ký đối với thửa 31. Như vậy, từ năm 1985 đến trước năm 2000, cụ N1 không đăng ký, kê khai bổ sung cũng như không tranh chấp gì với bị đơn đối với diện tích đất thuộc thửa 35, cho đến ngày 15-4-2006 cụ N1 mới kê khai và ông H là người ký tên thay cho cụ N1 nộp hồ sơ. Thời điểm ông H nộp đơn kê khai, đăng ký thay cho cụ N1, thì cụ N1 đang bị bệnh nặng, đến tháng 12-2006 cụ N1 qua đời, do đó cũng không có căn cứ để xác định ý chí của cụ N1 muốn kê khai, đăng ký và tranh chấp với bị đơn đối với thửa 35. Đồng thời, từ năm 1985 đến năm 2006, giữa bị đơn bà H1 và cụ N1 cũng không xác định lại tứ cận, ranh mốc đối với phần đất đã cho ông N2 (thửa 35).

Như vậy ngoài diện tích đất 80m² ông N2, bà H1 được cụ C, cụ N1 cho và được cấp giấy chứng nhận được các đương sự thừa nhận thì thực tế từ năm 1985 đến thời điểm xảy ra tranh chấp (Năm 2006) diện tích đất của thửa 35 mà bà H1 sử dụng là 168,8m². Ông N2, bà H1 thực tế đã sử dụng đất tăng so với giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cấp vào năm 1985, từ 80m² lên 168,8m² nhưng từ năm 1985 cho đến thời điểm xảy ra tranh chấp, ông bà sử dụng đất ổn định lâu dài và không có tranh chấp, xác định tứ cận vườn sân được phép sử dụng đúng với hiện trạng đất hiện tại bị đơn sử dụng. Năm 1998, bà H1 làm hồ sơ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa 35, tại Biên bản xác định ranh mốc, vị trí từ 1 đến 7, thì ông Lê Văn H ký xác nhận hộ giáp ranh, ngoài ra tại Bản di chúc bà N1 lập ngày 16-12-2002 cũng không đề cập đến diện tích đất tranh chấp. Đồng thời quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại UBND phường X và Chi cục thuế thành phố L về việc thực hiện

nghĩa vụ thuế của các đương sự đối với diện tích đất tranh chấp, kết quả như sau: (1) Bà Bùi Thị H1 thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ đối với diện tích 168,8m² từ năm 1997; ông Lê Văn H có thực hiện nghĩa vụ đóng thuế vào các năm 2010, 2011 nhưng không rõ cho số tờ bản đồ và thửa đất; từ năm 2012 đến 2017 ông H có đóng thuế cho diện tích 80m² đối với thửa 35, tờ bản đồ 11 theo biên lai thu số 044683 ngày 22-9-2017 (truy thu thuế) và sau đó đóng cho các năm tiếp theo. Tòa án cũng đã ban hành công văn yêu cầu Chi cục thuế thành phố L sao lục hồ sơ kê khai đăng ký thuế của cụ Nguyễn Thị N1 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ 11 tọa lạc tại phường X nhưng cơ quan thuế xác định: "Theo hồ sơ lưu trữ tại cơ quan thuế thì cụ Nguyễn Thị N1 không kê khai nộp thuế nhà đất đối với thửa đất này". Chi cục thuế thành phố L căn cứ vào phần xác nhận của UBND phường X ở tờ kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của bà Bùi Thị H1, ông Lê Văn H để làm căn cứ lập bộ thuế. Căn cứ công văn trả lời của UBND phường X đối với việc xác nhận vào tờ kê khai thuế của ông Lê Văn H và bà Bùi Thị H1 thì chính quyền địa phương và cơ quan thuế cũng không nắm rõ diện tích đất thực tế các đương sự quản lý, sử dụng để làm cơ sở thông báo thuế mà chỉ căn cứ vào việc kê khai (tự kê khai) của ông H, bà H1 để thông báo nộp thuế.

Ngoài ra người làm chứng là ông Trần Ngọc Anh T3 (con rể ông T2) cũng xác định ranh đất nhà ông (thửa đất 34) giáp với đất nhà ông N2 - hướng Bắc: Năm 1991, ông mua một miếng đất phía sau thửa 34 của ông C với giá 1,5 chỉ vàng. Ông có viết giấy tay bán đất ghi rõ “từ hàng rào con N1 sang hàng rào con Chình, bề dài từ đuôi nhà N1 dài đến hàng rào nhà máy điện”, “Chình” là tên thường gọi của bà H1. Lời trình bày của người làm chứng phù hợp với sơ đồ lô đất Y77, quốc lộc 1 và phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Nguyên đơn ông H cho rằng diện tích đất tranh chấp 116,5m² là của cụ C và cụ N1 chưa chia, tuy nhiên ông H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh và không được bị đơn thừa nhận, do đó không có cơ sở để xác định phần diện tích đất tranh chấp là do cụ N1 và cụ C chưa chia. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và xét xử lại vụ án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh do đó yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở chấp nhận.

  1. [5] Về án phí:

Án phí sơ thẩm, phúc thẩm: Ông Lê Văn H thuộc trường hợp người cao tuổi (theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi), nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. [6] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
  2. [7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai.

Áp dụng 631, 633, 634, 676, 677, 674, 688 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Áp dụng 623, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 166, 167 Luật Đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, về việc tranh chấp về chia thừa kế tài sản đối với diện tích đất 116,5m², được giới hạn bởi các điểm (3, 4, 5, 6, 7, 8, 3) thể hiện tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 lập ngày 12-6-2014, thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 11, BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) với bị đơn bà Bùi Thị H1.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P1 và ông Lê Văn T1 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản đối với diện tích đất 148m² thuộc thửa 31, tờ bản đồ 11 BĐĐC phường X (nay là tờ bản đồ số 70, BĐĐC phường L) với nguyên đơn ông Lê Văn H, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập.

Bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P1, ông Lê Văn T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại đối với yêu cầu đã rút theo thủ tục chung.

  1. Về án phí:

Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho ông Lê Văn H. Hoàn trả cho ông Lê Văn H số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo B lại thu số 0008080 ngày 10-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh (nay là nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đồng Nai).

Hoàn trả cho bà Lê Thị Mỹ P, bà Lê Thị Mỹ P1, ông Lê Văn T1 số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009379 ngày 10-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đồng Nai).

  1. Về chi phí tố tụng:

Ông Lê Văn H phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 22.566.700đ (Hai mươi hai triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm đồng), ông H đã nộp đủ và đã quyết toán xong.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.Đồng Nai;
  • - TAND khu vực 4 – Đồng Nai;
  • - Phòng THADS khu vực 4 – Đồng Nai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Xuân Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 41/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/10/2025 nguyên đơn ông Lê Văn H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Nai đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger