TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41 /2025/HSST
Ngày: 29/12/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Xuyên
Ông Đinh Xuân Mông
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/HSST-ST, ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐST- ST ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị M; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1982, tại xã B, tỉnh Nghệ An, trú tại: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An, nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; con ông: Nguyễn Văn P, con bà Nguyễn Thị H; có chồng là Cao Văn T, xon có 04 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2020
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996; Địa chỉ: Xóm N, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.
Anh Tô Viết H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Xóm F xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau:
Để phòng chống dịch bệnh trên địa bàn nên ngày 04/7/2025, UBND xã V, tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 21/QĐ-UBND về việc công bố dịch bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn xã V, tỉnh Nghệ An và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Mặc dù biết được các thông tin này, nhưng vào khoảng 16 giờ ngày 04/8/2025, Nguyễn Thị M liên lạc với anh Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1996, trú tại: xóm N, xã V, tỉnh Nghệ An) để hỏi mua lợn về giết mổ chế biến thực phẩm bán ra thị trường thì anh Đ đồng ý. Sau đó, anh Đ liên lạc với anh Tô Viết H1 (sinh năm 1983, trú tại: xóm F, xã V, tỉnh Nghệ An) hỏi “Bữa ni có lợn mô không anh” thì anh H1 trả lời “Có hai con, giá bốn triệu”. Lúc này, anh Đ thông báo lại Nguyễn Thị M với nội dung “Hiện tại là có hai con, đang còn đi lại khoẻ và đang ăn”, M nói “Hai con mấy tiền” thì anh Đ trả lời “Hai con khoảng 2,5 tạ đến 2,6 tạ giá bốn triệu”. Do biết lợn bị nhiễm bệnh dịch tả Châu Phi nên mới có giá rẻ hơn một nửa so với giá thị trường nên M đồng ý mua và nói Đ vận chuyển 02 (hai) con lợn đến nhà M. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, anh Đ điều khiển xe môtô dẫn anh H1 điều khiển xe ôtô tải nhãn hiệu Huyndai, màu xanh, biển số 37C-461.02 trên xe chở 02 (hai) con lợn nói trên đến nhà giao cho M. Sau khi giao xong, anh Đ nói M gửi tiền cho anh H1 thì M nói “Chị không có tiền đây, em gửi cho họ rồi chị chuyển khoản cho em” thì anh Đ đồng ý và đưa cho anh H1 số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), sau đó anh Đ và anh H1 đi về. Sau đó, Nguyễn Thị M đã trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, Nguyễn Thị M thuê anh Nguyễn Hoàng Q (sinh năm 1980, trú tại: xóm B, xã Đ, tỉnh Nghệ An) đến nhà M giết mổ 02 (hai) con lợn đã mua nêu trên. Qúa trình giết mổ, M phát hiện phổi và lá lách của 01 (một) trong 02 (hai) con lợn bị sẫm màu hơn so với bình thường, biết rõ lợn đã bị nhiễm bệnh dịch tả Châu P1 nhưng M vẫn tiếp tục để anh Q giết mổ, phân loại thịt. Sau khi giết mổ, phân loại thịt thì anh Q bàn giao lại cho M và ra về. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Mai B các loại thịt thành phẩm này lên trên sạp sắt để bán cho người tiêu dùng. Lúc này, bà Hồ Thị O (sinh năm 1960, trú tại: xóm C, xã Đ, tỉnh Nghệ An) đi đến hỏi mua mỡ lợn thì M đồng ý. Khi chuẩn bị bán cho bà O thì Tổ công tác liên ngành thuộc UBND xã V, tỉnh Nghệ An đến kiểm tra, phát hiện trên thân thịt không có dấu kiểm soát giết mổ của cơ quan có thẩm quyền, có dấu hiệu mắc bệnh truyền nhiễm dịch tả lợn Châu Phi nên Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật có liên quan và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N.
Tại biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại đối với tang vật thu giữ của Nguyễn Thị M, xác định:
“Khối lượng thịt thành phẩm từ con lợn thứ nhất là 146,5kg (một trăm bốn mươi sáu phẩy năm kilôgam); Khối lượng thịt thành phẩm từ con lợn thứ hai là 139,5kg (một trăm ba mươi chín phẩy năm kilôgam). Tổng khối lượng thịt thành phẩm thu giữ của Nguyễn Thị M có khối lượng là 286kg (hai trăm tám mươi sáu kilôgam).
- Tiến hành lấy 0,6kg (không phẩy sáu kilôgam) thịt thành phẩm từ con lợn thứ nhất, chia thành 02 (hai) mẫu, mỗi mẫu 0,3kg (không phẩy ba kilôgam) cho vào túi ni lông khác nhau, niêm phong theo đúng quy định ký hiệu lần lượt là C1, D1.
- Tiến hành lấy 0,6kg (không phẩy sáu kilôgam) thịt thành phẩm từ con lợn thứ hai, chia thành 02 (hai) mẫu, mỗi mẫu 0,3kg (không phẩy sáu kilôgam) cho vào túi ni lông khác nhau, niêm phong theo đúng quy định ký hiệu lần lượt là C2, D2.
Lấy mẫu C1, C2 gửi xét nghiệm tại Trung tâm chẩn đoán và xét nghiệm thú y Trung ương I. Đối với các mẫu D1, D2 được bảo quản theo quy định phục vụ giám định tại Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh N.
Sau khi lấy mẫu gửi xét nghiệm, giám định, số thịt thành phẩm còn lại của hai con lợn được niêm phong lại vào các bì xác rắn được sử dụng để niêm phong ban đầu. Trong đó, số thịt thành phẩm của con lợn thứ nhất và thứ hai sau khi được niêm phong ký hiệu lần lượt E1, E2” .
Tại Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm số 1432/CĐXN1-T2 ngày 06/8/2025 của Trung tâm I, Cục Chăn nuôi và Thú y kết luận đối với mẫu C1: “Phát hiện thấy vi rút gây bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trong 01 mẫu kiểm tra”;
Tại Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm số 1433/CĐXN1-T2 ngày 06/8/2025 của Trung tâm I, Cục Chăn nuôi và Thú y kết luận đối với mẫu C2: “Phát hiện thấy vi rút gây bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trong 01 mẫu kiểm tra”.
Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị M. Qúa trình khám xét thu giữ 98.5kg (chín mươi tám phẩy năm kilôgam) thịt lợn thành phẩm chưa qua kiểm dịch, trên thân thịt không có dấu kiểm soát giết mổ của cơ quan có thẩm quyền được bọc trong 21 (hai mươi mốt) túi nilông. Cho lần lượt 21 (hai mươi mốt) túi nilông chứa thịt lợn thành phẩm thu giữ của Nguyễn Thị M vào 03 (ba) bì xác rắn màu đỏ, mỗi bì đựng 07 (bảy) túi nilông chứa thịt lợn thành phẩm, sau đó dùng dây buộc kín miệng túi niêm phong theo quy định (Ký hiệu lần lượt là A1, A2, A3) .
Tại biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại đối với tang vật thu giữ sau khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị M, xác định:
“- Thịt thành phẩm trong bì xác rắn thứ nhất (Ký hiệu A1) sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng lần lượt là 5,5kg - 4,5kg - 5,5kg - 3kg - 6kg - 4kg - 3kg (Ký hiệu lần lượt là T1, T2, T3, T4, T5, T6, T7);
-Thịt thành phẩm trong bì xác rắn thứ hai (Ký hiệu A2) sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng lần lượt là 4kg - 5kg - 5kg - 3kg - 4,5kg - 5,5kg - 5kg (Ký hiệu lần lượt là T8, T9, T10, T11, T12, T13, T14);
-Thịt thành phẩm trong bì xác rắn thứ ba (Ký hiệu A3) sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng lần lượt là 6kg - 6,5kg - 3kg - 6kg - 4kg - 5,5kg - 4kg (Ký hiệu lần lượt là T15, T16, T17, T18, T19, T20, T21);
Tổng khối lượng 21 (hai mươi mốt) túi nilông chứa thịt lợn thành phẩm đã loại bỏ bao bì là 98,5kg (chín mươi tám phẩy năm kilôgam), lấy mỗi mẫu 0,2kg (không phẩy hai kilôgam) gửi giám định (T1 đến T21) có tổng khối lượng là 4,2kg (bốn phẩy hai kilôgam), số thịt thành phẩm còn lại là 94,3kg (chín mươi bốn phẩy ba kilôgam) được để vào các bì xác rắn đã sử dụng để niêm phong ban đầu tiến hành niêm phong lại, bảo quản theo quy định”.
Ngày 13/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định số 10719/QĐ-VPCQCSĐT yêu cầu Trung tâm I, Cục Chăn nuôi và Thú y giám định dịch bệnh đối với các mẫu vật thu giữ của Nguyễn Thị M gồm các mẫu Ký hiệu từ T1 - T21 và D1, D2.
Tại Bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực chăn nuôi và thú ý số 260/KLGĐ-CĐXN1 ngày 05/9/2025 của Trung tâm I, Cục C2 và Thú y, kết luận:
“1. Nội dung yêu cầu giám định: Mẫu cần giám định có bị nhiễm bệnh, dịch bệnh hay không? Loại bệnh, dịch bệnh gì? Có phải là động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật không?
a) Cơ sở, thực trạng thông tin từ hồ sơ, đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, đồ vật, mẫu vật:
- Mẫu thịt lợn thành phẩm được lấy từ thịt lợn thành phẩm thu giữ tại nơi giết mổ không đúng nơi quy định, không đảm bảo quy trình giết mổ, có dấu hiệu nghi nhiễm dịch bệnh;
- Căn cứ tình hình dịch tế dịch bệnh trên lợn tại địa bàn tỉnh Nghệ An trong những năm qua (có xảy ra dịch Lở mồm long móng, Dịch tả lợn C) và tại thời điểm thu giữ tang vật (có xảy ra Dịch tả lợn Châu Phi);
- Tình trạng đối tượng gửi giám định tác nhân gây bệnh:
- Mẫu vật giám định là 23 (hai mươi ba) mẫu thịt lợn thành phẩm thu giữ của bà Nguyễn Thị M được niêm phong theo đúng quy định và có đầy đủ thông tin yêu cầu về mẫu kèm theo.
- Các mẫu thịt lợn thành phẩm được thu giữ từ ngày 05/8/2025 và 11/8/2025; được bảo quản trong điều kiện mát (đá lạnh) khi lưu giữ và vận chuyển đến phòng thí nghiệm.
Đánh giá tình trạng mẫu vật giám định như sau:
(i) Mẫu thịt lợn thành phẩm đạt yêu cầu để xét nghiệm sinh học phân tử xác định các tác nhân gây bệnh do vi rút;
(ii) Mẫu thịt lợn thành phẩm không đạt yêu cầu (điều kiện, thời gian bảo quản không hoàn toàn tuân thủ QCVN 01-04:2009/BNNPTNT) để thực hiện xét nghiệm các chỉ tiêu về vi sinh vật gây ô nhiễm thực phẩm.
b) Nhận định, đánh giá của Trung tâm:
- Trạm Chẩn đoán và Xét nghiệm II - Trung tâm I đã thực hiện xét nghiệm tổng số 23 mẫu đối với các mầm bệnh Dịch tả lợn Châu phi và Lở mồm long móng ở lợn, kết quả:
- Không phát hiện thấy vi rút Lở mồm long móng trong 23/23 mẫu được giám định;
- Phát hiện có 13/23 mẫu được giám định có mang vi rút Dịch tả lợn Châu phi (ASFV), gồm các mẫu có ký hiệu: T6, T8, T10, T11, T12, T13, T14, T15, T16, T17, T21, D1, D2.
- Bệnh Dịch tả lợn C3 (ASF) là bệnh truyền nhiễm thuộc Danh mục bệnh động vật trên cạn (trên lợn) phải công bố dịch theo quy định tại Thông tư số 24/2019/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2019 sửa đổi một số điều của Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ N quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn.
- Việc phòng, chống, áp dụng các biện pháp xử lý bắt buộc đối với lợn mắc bệnh Dịch tả lợn Châu Phi thực hiện theo quy định tại Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ N quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, Thông tư số 24/2019/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2019 sửa đổi một số điều của Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ N quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn và theo các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ N, Cục Chăn nuôi và Thú y.
c) Kết luận giám định:
Có 13/23 mẫu thịt lợn thành phẩm được giám định có mang vi rút Dịch ta lợn Châu phi (ASFV), gồm các mẫu có ký hiệu: T6, T8, T10, T11, T12, T13, T14, T15, T16, T17, T21, D1, D2.
d) Tài liệu kiểm chứng kèm theo kết luận giám định: Phiếu trả lời kết quả xét nghiệm số 2175/CĐXN1-T2 ngày 16/8/2025 của Trung tâm I”
Như vậy, số thịt lợn thành phẩm mang vi rút Dịch ta lợn Châu phi (ASFV), gồm các mẫu có ký hiệu: T6, T8, T10, T11, T12, T13, T14, T15, T16, T17, T21, D1, D2 với khối lượng lần lượt là 4kg - 4kg - 5kg - 3kg - 4,5kg - 5,5kg - 5kg - 6kg - 6,5kg - 3kg - 4kg - 146,5kg - 139,5kg.
Ngày 28/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ban hành Yêu cầu Định giá tài sản số 24962/QĐ-VPCQCSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân tỉnh N tiến hành định giá các tài sản sau: “01 con lợn nái (lợn mạ) đã được giết mổ lấy thịt thành phẩm, được chia thành nhiều miếng thịt khác nhau có khối lượng 146,5kg (một trăm bốn mươi sáu phẩy năm kilôgam); 01 con lợn nái (lợn mạ) đã được giết mổ lấy thịt thành phẩm, được chia thành nhiều miếng thịt khác nhau có khối lượng 139,5kg (một trăm ba mươi chín phẩy năm kilôgam); Thịt lợn thành phẩm có khối lượng 50,5kg (năm mươi phẩy năm kilôgam)”.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 156/KL-HĐĐGTS ngày 03/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh N, kết luận: “Giá trị tài sản là số thịt lợn thành phẩm theo giá trị thị trường tại thời điểm tháng 8 năm 2025, có giá trị (đã làm tròn số) là: 20.527.000 đồng (Hai mươi triệu, năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng), cụ thể như sau: 01 (một) con Lợn nái (lợn mạ) có khối lượng 146,5 kg, có giá trị: 55.000 đồng/01kg x 146,5kg = 8.057.500 đồng (tám triệu, không trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm đồng; 01 (một) con Lợn nái (lợn mạ) có khối lượng 139,5 kg, có giá trị: 55.000 đồng/01kg x 139,5kg = 7.672.500 đồng (bảy triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm đồng); Thịt lợn thành phẩm có khối lượng 50,5kg, có giá trị: 95.000 đồng/01kg x 50,5kg = 4.797.500 đồng (bốn triệu, bảy trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng”.
Tại Công văn số 7724/SNNMT-CNTY ngày 09/9/2025 của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh N có ý kiến như sau:
“Ngày 24/12/2019, Bộ N (nay là Bộ N) đã ban hành Thông tư 24/2019/TT-BNNPTNT v/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 quy định về phòng, chống dịch bệnh trên cạn: Bổ sung bệnh Dịch tả lợn C phi vào Danh mục bệnh động vật trên cạn phải công bố dịch.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật Thú y: “Các biện pháp xử lý bắt buộc động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh và sản phẩm động vật mang mầm bệnh thuộc Danh mục bệnh động vật phải công bố dịch, Danh mục bệnh truyền lây giữa động vật và người hoặc phát hiện có tác nhân gây bệnh truyền nhiễm mới bao gồm:
- Tiêu hủy bắt buộc;
- Giết mổ bắt buộc”.
Như vậy, bệnh Dịch tả lợn C đã được bổ sung vào Danh mục bệnh động vật phải công bố dịch và thuộc đối tượng xử lý bắt buộc động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh và sản phẩm động vật mang mầm bệnh truyền nhiễm tại Thông tư 24/2019/TT-BNNPTNT ngày 24/12/2019 của Bộ N và PTNT”
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-KV5 ngày 20/11/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Nghệ An đã truy tố Nguyễn Thị M về tội “ Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 317 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thị M về tội “ Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 317 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “ Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm”
Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 317 điểm s. h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị M mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Nghệ An quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo không có khiếu nại gì cho nên khẳng định việc truy tố và các biện pháp, hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Nguyễn Thị M hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định;
Ngày 05/8/2025, tại xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị M mua 02 (hai) con lợn mà biết rõ lợn bị nhiễm bệnh dịch tả C, thuộc trường hợp động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật rồi tiến hành giết mổ, chế biến thành 286kg (hai trăm tám mươi sáu kilôgam) thịt lợn thành phẩm để bán ra thị trường với sản phẩm có giá trị là 15.730.000 đồng (mười lăm triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
Việc bị cáo Nguyễn Thị M biết rõ thông tin trên địa bàn xã V, tỉnh Nghệ An thời điểm đó đang bùng phát bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và đã được Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Nghệ An thông báo về Quyết định số 21/QĐ-UBND về việc Công bố dịch bệnh Dịnh tả lợn C cũng như các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong đó cấm các hành vi giết mổ, buôn bán động vật có khả năng lây bệnh. Nhưng vì hám lợi cho nên Nguyễn Thị M vẫn cố tình mua 02 con lợn mang dịch bệnh với giá rẻ về làm thịt chế biến thành 286 kg với trị giá 15.730.000 đồng với mục đích bán ra thị trường đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm”. Cho nên cáo trạng số 19/CT-VKS-KV5 truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 317 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm đến việc phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Cho nên cần xét xử nghiêm, C1 lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thật thà khai báo, tỏ rã ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình phạm tội chưa gây thiệt hại, bị cáo có chồng là người có thời gian phục vụ trong quân đội, có mẹ chồng có thời gian tham gia lực lượng thanh niên xung phong cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng cho nên xét thấy chưa cần thiết lên mức án tù giam mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Đối với hành vi cất giữ 50,5kg (năm mươi phẩy năm kilôgam) thịt lợn thành phẩm bị nhiễm bệnh dịch tả lợn Châu Phi thu giữ trong tủ lạnh tại nhà của Nguyễn Thị M khi tiến hành khám xét vào ngày 11/8/2025. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Thị M không biết rõ nguồn gốc và không biết số thịt lợn này bị nhiễm bệnh dịch tả lợn Châu Phi nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Tô Viết H1, anh Nguyễn Văn Đ (là người bán 02 (hai) con lợn bị nhiễm bệnh dịch tả lợn C cho Nguyễn Thị M) và anh Nguyễn Hoàng Q là người giết mổ lợn. Qúa trình điều tra xác định, anh H1, anh Đ và anh Q không biết 02 (hai) con lợn bị nhiễm bệnh dịch tả lợn Châu Phi nên không có căn cứ để xử lý.
[3] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra có thu giữ: Khối lượng thịt thành phẩm từ 02 (hai) con lợn thu giữ của Nguyễn Thị M có khối lượng là 286kg (hai trăm tám mươi sáu kilôgam). Sau khi lấy mẫu gửi xét nghiệm, giám định, số thịt thành phẩm còn lại của 02 (hai) con lợn là 284,8kg (hai trăm tám mươi bốn phẩy tám kilôgam) được niêm phong lại vào các bì xác rắn được sử dụng để niêm phong ban đầu. Số thịt thành phẩm của con lợn thứ nhất và thứ hai sau khi được niêm phong ký hiệu lần lượt E1 và E2; 21 (hai mươi mốt) túi thịt lợn thành phẩm thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị M, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 98,5kg (chín mươi tám phẩy năm kilôgam), lấy mỗi mẫu 0,2kg gửi giám định có tổng khối lượng là 4,2kg (bốn phẩy hai kilôgam), số thịt thành phẩm còn lại là 94,3kg (chín mươi bốn phẩy ba kilôgam) được để vào các bì xác rắn đã sử dụng để niêm phong ban đầu tiến hành niêm phong lại, bảo quản theo quy định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiến hành tiêu hủy toàn bộ số tang vật trên theo quy định
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b, khoản 1, Điều 317 điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên bố Nguyễn Thị M phạm tội “ Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm”
Xử phạt Nguyễn Thị M; 12 ( Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng. Thời hạn thủ thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Nghệ An quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo..
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Trường Giang |
Bản án số 41/2025/HSST ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NGHỆ AN về hình sự (vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm)
- Số bản án: 41/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị mai
