Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 25-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Chất.
  2. Bà Lê Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toán, Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Văn H, sinh ngày 16/11/1999; tại: G - An Giang. Nơi cư trú: Tổ F, ấp T, xã G, tỉnh An Giang; CCCD số: 091099014862; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T (đã chết) và bà Cao Thị T1; bị cáo có vợ tên Thị Xiếu V và 02 người con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam H cơ sở 1 từ ngày 09/8/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Tống Văn T2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, tỉnh An Giang. Vắng mặt

- Ông Tống Văn T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ E, ấp K, xã G, tỉnh An Giang. Vắng mặt

Nguyên đơn dân sự: Ông Tống Phước H1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ E, ấp K, xã G, tỉnh An Giang. Có mặt

Người làm chứng:

- Ông Trần Văn P, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp R, xã G, tỉnh An Giang. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

- Bà Huỳnh Thị Quỳnh N, sinh năm 2004. Địa chỉ: Tổ B, ấp R, xã G, tỉnh An Giang. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 08/8/2025 tại tổ C, ấp R, xã G, tỉnh An Giang, lực lượng Công an xã G, tỉnh An Giang phối hợp với Trạm Biên phòng R thuộc Đồn Biên phòng P1, Bộ đội Biên phòng tỉnh A thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, đã dừng kiểm tra đối với xe ô tô biển kiểm soát 68H - 070.05 nhãn hiệu Vinfast VF5 do Hồ Văn H điều khiển chở Huỳnh Thị Quỳnh N, phát hiện trong túi quần jean Hớn đang mặc có bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MELON có chứa 01 bịch nylon không màu có rãnh cài viền màu đỏ, kích thước (4,5 x 05) cm, bên trong có chứa tinh thể dạng rắn không đồng nhất, H khai là chất ma túy; 01 ví da màu đen có chứa hai bịch nylon, trong đó 01 (một) bịch nylon không màu có rãnh cài viền màu đỏ, kích thước (4,3 x 4,3) cm, bên trong có chứa thảo mộc khô, H khai là cỏ mỹ và 01 (một) bịch nylon không màu có rảnh cài, kích thước (2,5 x 03) cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng rắn không đồng nhất, H2 là ma túy đã sử dụng hết trước đó. Ngoài ra, phát hiện ở hộc để nước phía sau xe ô tô biển kiểm soát 68H - 070.05 có bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy, gồm có 01 (một) cây nỏ thủy tinh bên trong có chứa chất bám dính một đầu nối với ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) cây nỏ thủy tinh bên trong chứa chất bám dính gắn trên nắp chai nhựa màu nâu vàng, trên nắp trai còn gắn một ống hút nhựa màu xanh; nắp chai được gắn trên chai nhựa không màu có dán tem “MẮM TÔM BẮC Cao Cấp KIM NGÂN”.

Qua làm việc, Hồ Văn H khai nhận ngày 08/8/2025 H sử dụng điện thoại gọi cho một người tên “Nam” (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy với số tiền 500.000 đồng, thì N1 đồng ý, Nam để ma túy trong bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MELON, ở mé đường gần khu vực cửa khẩu Quốc tế T6, tỉnh An Giang. Sau đó, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để vào túi áo khoát, rồi thuê xe ô tô biển kiểm soát 68H-070.05 nhãn hiệu Vinfast VF5 của ông Tống Phước H1 và rủ bạn là Huỳnh Thị Quỳnh N cùng đi T. Khi đến điểm hẹn, thấy ở mé đường có bao thuốc lá giống với đặc điểm mà N1 đã mô tả trước đó, H đến lấy để vào túi quần Jean đang mặc, để lại số tiền 500.000 đồng ngay vị trí lấy ma túy để trả cho N1, rồi điều khiển xe về đến đoạn đường thuộc Tổ C, ấp R, xã G thì bị phát hiện bắt quả tang. Đối với bịch thảo mộc khô được người bạn (không nhớ họ tên, địa chỉ) cho trong lúc nhậu ở Rạch G; bịch ma túy còn lại H mua của một người Khmer (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực Cửa khẩu Quốc tế H5, đã sử dụng hết chỉ còn chất bám dính.

Tại Kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 16/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:

  • - Mẫu 01:
  • + Các hạt tinh thể dạng rắn không đồng nhất chứa bên trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9090 gam.
  • + Thảo mộc khô chứa bên trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định Phòng K không đủ điều kiện để kết luận. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1254 gam.
  • - Mẫu 02: Chất bám dính bên trong 02 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Chất bám dính không xác định được khối lượng.

H3 lại đối tượng giám định:

  • - Mẫu 01: Các hạt tinh thể dạng rắn còn lại sau giám định có khối lượng là 1,8364 gam đựng trong 01 bịch nylon; thảo mộc khô còn lại sau giám định có khối lượng 0,0951 gam đựng trong 01 túi nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì.
  • - Mẫu 02: Chất bám dính đã sử dụng hết cho giám định, hoàn lại 02 cây nỏ thủy tinh và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì.

Tại Kết luận số 4247 ngày 13/10/2025 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

Mẫu ký hiệu M1.2 được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, khối lượng là 0,0785 gam, loại MDMB-4en PINACA.

Không hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Vật chứng trong vụ án:

  1. Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T4, người chứng kiến Lê Văn T5 và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh A. Mẫu 2: Chất bám dính đã sử dụng hết cho giám định, hoàn lại 02 cây nỏ thủy tinh và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì.
  2. 01 gói được niêm phong hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong đựng mẫu vật M1.1 (tinh thể - không giám định) có các chữ ký ghi tên Bùi Thúy H4 (người chứng kiến), Danh N2 (người niêm phong).
  3. 01 điện thoại ViVo Y22s 8GB màu xanh dương, kiểu V2206, số sê – ri: 10AC9U1YY6001B0 (đã qua sử dụng).
  4. 01 chiếc ví da màu đen (đã qua sử dụng).
  5. 01 bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MELON (đã qua sử dụng).

Vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – An Giang.

Ông Tống Phước H1 yêu cầu bị cáo Hồ Văn H bồi thường thiệt hại do xe bị giữ là 13.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKSKV, ngày 14/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - An Giang đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn H mức án từ 03 (ba năm) đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Ghi nhận ý kiến bị cáo đồng ý trả tiền thuê xe cho ông H1 do xe bị tạm giữ để điều tra gây thiệt hại 13.000.000 đồng. Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa và đề nghị của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tống Văn T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Tống Văn T3 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Người làm chứng ông Trần Văn P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/8/2025 tại ấp R, xã G, tỉnh An Giang, bị cáo Hồ Văn H, sinh năm 1999 có hành vi mua và cất giấu nhiều túi ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 1,9090 gam và thảo mộc là chất ma túy, khối lượng là 0,0785 gam, loại MDMB-4en PINACA nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Đối chiếu với Điều 249 Bộ luật Hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì hành vi của bị cáo Hồ Văn H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thể hiện như sau: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm, bởi tệ nạn ma túy là mối hiểm họa cho xã hội, gây tàn phá sức khỏe con người, ảnh hưởng đến an toàn xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước, đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà nhà nước cấm lưu thông, sản xuất, tàng trữ.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng, nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo có căn cứ. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nghiêm trọng, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và vai trò của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội nhằm răn đe, cải tạo bị cáo, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là:

  • - Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T4, người chứng kiến Lê Văn T5 và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh A. Mẫu 2: Chất bám dính đã sử dụng hết cho giám định, hoàn lại 02 cây nỏ thủy tinh và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì.
  • - 01 gói được niêm phong hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong đựng mẫu vật M1.1 (tinh thể - không giám định) có các chữ ký ghi tên Bùi Thúy H4 (người chứng kiến), Danh N2 (người niêm phong).
  • - 01 chiếc ví da màu đen (đã qua sử dụng).
  • - 01 bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MELON (đã qua sử dụng).

Tịch thu, sung ngân sách nhà nước vật chứng là 01 điện thoại ViVo Y22s 8GB màu xanh dương, kiểu V2206, số sê – ri: 10AC9U1YY6001B0 (đã qua sử dụng).

Quá trình kiểm tra phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hồ Văn H, tổ tuần tra đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn – Công an xã G, tỉnh An Giang có tạm giữ phương tiện 01 chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 68H-070.05, màu trắng; nhãn hiệu VINFAST, số loại VF5 PLUS1; số khung: RLNV5JSE2SH735909; số máy: VFCAFB253200132 (đã qua sử dụng) và đã trả lại cho chủ sở hữu ông Tống Văn T2 theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 9194/QĐ-VPCQCSĐT ngày 22/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A.

[8] Ngoài lần bị bắt quả tang, H khai nhận còn mua ma túy của N1 02 lần khác nhưng không thu được ma túy, không xác định được khối lượng, loại ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người đàn ông tên gọi là “Nam” và người đàn ông K đã bán ma túy cho H. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Huỳnh Thị Quỳnh N đi chung xe với H tại thời điểm bắt người phạm tội quả tang nhưng không biết việc H tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.

[9] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, ông Tống Phước H1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt số tiền 13.000.000 đồng và bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30, Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 09/8/2025.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là:

    • - Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T4, người chứng kiến Lê Văn T5 và hình dấu tròn của Phòng K - Công an tỉnh A. Mẫu 2: Chất bám dính đã sử dụng hết cho giám định, hoàn lại 02 cây nỏ thủy tinh và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì.
    • - 01 gói được niêm phong hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong đựng mẫu vật M1.1 (tinh thể - không giám định) có các chữ ký ghi tên Bùi Thúy H4 (người chứng kiến), Danh N2 (người niêm phong).
    • - 01 chiếc ví da màu đen (đã qua sử dụng).
    • - 01 bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MELON (đã qua sử dụng).

    Tịch thu, sung ngân sách nhà nước vật chứng là 01 điện thoại ViVo Y22s 8GB màu xanh dương, kiểu V2206, số sê – ri: 10AC9U1YY6001B0 (đã qua sử dụng).

    Ghi nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 9194/QĐ-VPCQCSĐT ngày 22/8/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A trả lại cho chủ sở hữu ông Tống Văn T2 01 chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 68H-070.05, màu trắng; nhãn hiệu VINFAST, số loại VF5 PLUS1; số khung: RLNV5JSE2SH735909; số máy: VFCAFB253200132 (đã qua sử dụng).

  5. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Hồ Văn H bồi thường thiệt hại cho ông Tống Phước H1 số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
  6. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Văn H nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng), tổng cộng 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng).
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hồ Văn H, nguyên đơn dân sự Tống Phước H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tống Văn T2, Tống Văn T3 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND KV8 – An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger