|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-12-2025 (Về việc: Xác định cha cho con) |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng
Bà Hoàng Thị Phương Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 148/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc: Xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T - Sinh năm: 1997.
Hộ chiếu số: C7522214 do Cục Q cấp ngày 06/06/2019.
Nơi ở hiện tại: Số 5, ngõ 136, đoạn 2, đường Trung Hưng, khu 14, phường Đại Nguyễn, quận Đại Lý, thành phố Đài Trung, Đài Loan
HKTT: Khu 7, xã Cao Phong, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam (trước đây là: xóm L, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình, Việt Nam).
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Vũ Thị C
Địa chỉ: Số C, phố Đ, phường Y, TP Hà Nội (Theo văn bản ủy quyền lập ngày 23/7/2025) (vắng mặt có lý do)
- Bị đơn: Anh P, C1 - Sinh năm: 1980. Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).
CMND số: L122900232 cấp ngày 09/01/2015 (thành phố Đ) phát bổ sung. Địa chỉ: Số E, ngõ A, doạn 2, đường T, khu A, phường Đ, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan
(Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Phạm Tiến H. Căn cước công dân số 0310990019020 do Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 30/05/2024
Địa chỉ: C, phố Đ, phường Y, TP Hà Nội (vắng mặt có lý do)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn C2 - Sinh năm: 1984.
HKTT: Xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:
Cuối năm 2021, chị và anh P, C3 - Fu quen biết và có làm ăn chung tại Đài Loan, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức quan hệ đối tác. Sau khi hợp tác xong, chị và anh P, C3 - Fu không còn liên hệ với nhau nữa. Đến đầu năm 2022, chị gặp lại anh P, C3 - F. Thời điểm này, hai bên phát sinh quan hệ tình cảm và có 01 con chung là bé trai sinh ngày 06/01/2023 theo Giấy chứng sinh có số bệnh án và đăng ký khai sinh số: B20230107 10185 001 tại Cơ sở Y tế C5 (Địa chỉ: Số C, đoạn B, đường T, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan), tên khai sinh dự kiến Peng Yinwei. Để có cơ sở xác định quan hệ cha con, ngày 12/12/2023, anh P, C3 - F1 và cháu Peng Y đã thực hiện giám định quan hệ huyết thống DNA tại Phòng thực nghiệm sinh học phân tử thuộc Công ty Cổ phần K. Dựa trên kết quả xét nghiệm mã số: L-178-23-0786 kết luận tỷ lệ quan hệ huyết thống cha con là 99.99992241%. Thời điểm đó, chị T đang trong quan hệ hôn nhân với anh Bùi Văn C2, sinh năm 1984, trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ. Theo chị được biết, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam quy định "Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng" Vì vậy, chị không thể khai sinh cho cháu P Yinwei để có cả bố và mẹ theo kết quả giảm định được. Ngày 28/07/2023, chị và anh C2 đã ly hôn theo bản án số 12/2023/HNGĐ- ST tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình. Vậy nên, để tiến hành khai sinh cho cháu cũng như để làm tròn trách nhiệm của người mẹ, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ Công nhận cháu Peng Y là con chung của chị T và anh P - Ching Fu đồng thời, công nhận anh Bùi Văn C2 không phải là cha ruột của cháu Peng Y.
Hiện nay, do chị T đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên chị không thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ không tiến hành hoà giải, giải quyết vắng mặt chị tại tất cả các buổi làm việc liên quan đến vụ án trên. Đề nghị Toà án tống đạt các giấy tờ đến chị Vũ Thị C là người đại diện theo ủy quyền của chị và chị C sẽ có trách nhiệm chuyển đến chị.
2. Bị đơn anh P- Ching Fu trình bày:
Cuối năm 2021, anh và chị Bùi Thị T quen biết và có làm ăn chung tại Đài Loan, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức quan hệ đối tác. Sau khi hợp tác xong, anh và chị T không còn liên hệ với nhau nữa. Đến đầu năm 2022, anh gặp lại chị T. Thời điểm này, hai bên phát sinh quan hệ tình cảm và có 01 con chung là bé trai, sinh ngày 06/01/2023 theo Giấy chứng sinh có số bệnh ản và đăng ký khai sinh số B20230107 10185 001 tại Cơ sở Y tế C5 (Địa chỉ: Số C, đoạn B, đường T, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan), tên khai sinh dự kiến Peng Yinwei. Tuy nhiên, chị T lại không thừa nhận cháu bé là con chung của anh và chị. Để chắc chắn hơn và có cơ sở xác định quan hệ cha con, ngày 12/12/2023, anh và cháu Peng Y đã thực hiện giám định quan hệ huyết thống DNA tại Phòng thực nghiệm sinh học phân tử thuộc Công ty Cổ phần K. Dựa trên kết quả xét nghiệm mã số: L 178-23-0786 kết luận tỷ lệ quan hệ huyết thống cha con là 99.99992241%. Thời điểm đó chị T đang trong quan hệ hôn nhân với anh Bùi Văn C2. Chính vì vậy, anh không thể khai sinh cho cháu P Yinwei đủ cả bố và mẹ theo kết quả giám định được. Ngày 28/7/2023, chị T và anh C2 đã ly hôn theo bản án số 12/2023/HNGĐ-ST tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình. Hiện nay, chị T đang yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ xác nhận quan hệ cha con giữa anh và cháu Peng Y, anh đồng ý.
Hiện nay, do anh P - Ching Fu đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên anh không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ không tiến hành hoà giải, giải quyết vắng mặt anh tại tất cả các buổi làm việc liên quan đến vụ án trên. Đề nghị Toà án tống đạt các giấy tờ đến anh Phạm Tiến H là người đại diện theo ủy quyền của anh P - Ching Fu, anh H sẽ có trách nhiệm chuyển đến anh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C2:
Anh Bùi Văn C2 đã được Tòa án triệu tập, tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác của Tòa án, tiến hành niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng anh C2 đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để anh C2 biết nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa tất cả các lần mà không có lý do.
4. Quá trình giải quyết vụ việc, Toà án đã thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương nơi cư trú của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C2:
- Kết quả xác minh tại Công an xã M có nội dung như sau: Anh Bùi Văn C2 sinh năm 1984 hiện trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ, hiện tại anh không có mặt tại địa phương.
- Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh Bùi Văn C2 được chính quyền địa phương cung cấp: Anh Bùi Văn C2 là công dân đang cư trú tại xóm L, xã M, tỉnh Phú Thọ, anh C2 hiện không có mặt ở địa phương, anh đi làm thỉnh thoảng mới về. Về con chung, giữa anh C2 và chị T có hai con chung là Bùi Ngọc C4, sinh năm 2015 và Bùi Đức T1, sinh năm 2017, anh chị đã ly hôn và hiện tại hai con đang ở với anh C2.
Tại phiên tòa, chị Bùi Thị T, anh P - Ching Fu, anh Bùi Văn C2 đều vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của chị Bùi Thị T là bà Vũ Thị C, người đại diện theo ủy quyền của anh P - Ching Fu là anh Phạm Tiến H vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 73 của BLTTDS
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Bùi Thị T; Xác định anh P - Ching Fu là cha đẻ của cháu Peng Y, sinh ngày 06/01/2023 (tên dự định khai sinh) theo Giấy chứng sinh có số bệnh án và đăng ký khai sinh số: B20230107 10185 001 tại Cơ sở Y tế C5 (Địa chỉ: Số C, đoạn B, đường T, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan), anh Bùi Văn C2 không phải là cha đẻ của cháu Peng Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Bùi Thị T là nguyên đơn có hộ khẩu thường trú tại khu G, xã C, tỉnh Phú Thọ (trước đây là: xóm L, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình). Nơi ở hiện tại: Số E, ngõ A, đoạn 2, đường T, khu A, phường Đ, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan. Anh P - C, địa chỉ: Số E, ngõ A, đoạn 2, đường T, khu A, phường Đ, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan. Tài liệu anh P - C và chị Bùi Thị T gửi về Việt Nam gồm Hộ chiếu của chị Bùi Thị T, chứng minh nhân dân của anh P - C, Giấy chứng sinh, Kết quả giám định ADN; Đơn từ chối hòa giải và xin giải quyết vắng mặt; Giấy ủy quyền; bản tự khai. Các tài liệu, chứng cứ trên đều đã được chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự, được Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ chứng thực. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản của anh P - Ching Fu và chị Bùi Thị T nộp gửi cho Toà án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ là đúng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do nhưng đã được Tòa án niêm yết công khai hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu xác nhận cha cho con của chị Bùi Thị T:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, chị Bùi Thị T kết hôn với anh Bùi Văn C2 vào ngày 22/6/2015, vợ chồng anh, chị nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, khác nhau về tính cách, lối sống nên thường xuyên cãi nhau. Ngày 28/7/2023, chị Bùi Thị T và anh Bùi Văn C2 đã ly hôn theo Bản án số 12/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
Trong thời gian là vợ chồng với anh Bùi Văn C2, chị Bùi Thị T có quen biết và có quan hệ tình cảm với anh P - Ching Fu, đã sinh 01 bé trai sinh ngày 06/01/2023 theo Giấy chứng sinh có số bệnh án và đăng ký khai sinh số: B20230107 10185 001 tại Cơ sở Y tế C5 (Địa chỉ: Số C, đoạn B, đường T, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan), tên khai sinh dự kiến Peng Yinwei. Chị Bùi Thị T, anh P - Ching F đều thừa nhận, cháu bé dự định đặt tên Peng Y, sinh ngày 06/01/2023 do chị Bùi Thị T sinh là con đẻ của anh P - C. Mặt khác, tại bản án số 12/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã xác định anh Bùi Văn C2 và chị Bùi Thị T chỉ có hai con chung là cháu Bùi Ngọc C4, sinh ngày 23/8/2015 và Bùi Đức T1, sinh ngày 06/12/2017.
Theo Kết quả xét nghiệm của phòng thực nghiệm sinh học phân tử thuộc Công ty Cổ phần K kết luận: Các mẫu vật gửi giám định của P - Ching F và con trai của chị Bùi Thị T, các loại DNA tương ứng đều không có sự bất tương thích, do đó xác suất quan hệ huyết thống là 99,99992241%. Giá trị CPI - 1288846.5, giá trị PP = 0,9999992241. Dựa trên kết quả xét nghiệm mã số: L 178-23-0786 kết luận tỷ lệ quan hệ huyết thống cha con là 99.99992241%.
Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị T xác định anh P - C là cha đẻ của bé trai do chị Bùi Thị T sinh ra, bé trai sinh ngày 06/01/2023 theo Giấy chứng sinh có số bệnh án và đăng ký khai sinh số: B20230107 10185 001 tại Cơ sở Y tế C5 (Địa chỉ: Số C, đoạn B, đường T, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan), tên khai sinh dự kiến Peng Y và anh Bùi Văn C2 không phải là cha đẻ của cháu Peng Y
[3]. Về án phí: Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Bùi Thị T thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101; Điều 102; Điều 128 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và điểm c khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện "Xác định cha cho con" của nguyên đơn chị Bùi Thị T.
Xác định cháu Peng Y, sinh ngày 06/01/2023 theo Giấy chứng sinh có số bệnh án và đăng ký khai sinh số: B20230107 10185 001 tại Cơ sở Y tế C5 (Địa chỉ: Số C, đoạn B, đường T, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan) là con đẻ của anh P- Ching F, sinh năm: 1980. Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan). CMND số: L122900232 cấp ngày 09/01/2015 (thành phố Đ) phát bổ sung. Địa chỉ: Số E, ngõ A, doạn 2, đường T, khu A, phường Đ, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan.
Anh Bùi Văn C2 không phải là cha ruột của cháu Peng Y.
-
Về án phí: Chị Bùi Thị T không phải chịu án phí sơ thẩm, được hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003404 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ do bà Vũ Thị C nộp thay.
-
Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T, anh P - Ching Fu được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Bùi Văn C2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hà |
7
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Huyền T2 và anh Bùi Minh T3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
8
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ về xác định cha cho con
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trang xin xác nhận cha cho con
