TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do-Hạnh phúc
Bản án số: 405/2025/KDTM-PT
Ngày: 31/12/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng thi công
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Xuân Hưng |
| Các thẩm phán: | Ông Cao Minh Vỹ |
| Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh |
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Đại Dương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 259/2025/TLPT-KDTM ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2025/KDTMST ngày 03-4-2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Phú Mỹ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 6632/QĐ-PT ngày 08-12-2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH T3 ThắngĐịa chỉ: 159/2 Đ, P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn P, sinh năm 1976 - Chức vụ: Giám đốc(mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Lê Viết T, sinh năm 1963, địa chỉ: Số B Sông R, phường R, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Ông Bùi Văn L, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ A ấp P, phường L, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH Đ1 chỉ: SốỐ MERGEFIELD ĐC3 06 lô D, khu đô thị T, phường Y, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Việt T1. Chức vụ: Giám đốc(có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trường S. Địa chỉ: Đường số F, phường T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Đình L1, chức vụ: Hiệu trưởng (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Người kháng cáo: Công ty TNHH Đ1.
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Ngày 28 tháng 10 năm 2018, Công ty TNHH T4 (sau đây gọi tắt là Công ty T4) và Công ty TNHH Đ1 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ1) ký Hợp đồng Thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH (sau đây gọi là Hợp đồng thi công 2810) để thỏa thuận về việc Cải tạo và xây dựng hồ nước phục vụ diễn tập cBB, dBB của Trường S, hợp đồng gồm các nội dung cơ bản sau:
Công ty T4 có trách nhiệm thi công xây dựng công trình theo bản vẽ thiết kế, chỉ dẫn kĩ thuật được Công ty Đ1 chấp nhận. Những công việc như tiếp nhận mặt bằng, thi công, bảo quản công trình và trang thiết bị, vệ sinh công trường... quy định tại Điều 5 Hợp đồng Thi công.
Công ty Đ1 có trách nhiệm thanh toán trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán của Công ty T4, Công ty Đ1 sẽ hoàn thành các thủ tục và chuyển đề nghị thanh toán tới cơ quan thanh toán.
Sau khi ký xong hợp đồng, Công ty T4 tiến hành thi công công trình và đã hoàn thành xong giai đoạn 1, sau đó hai bên đã cùng nhau xác nhận công nợ. Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Công ty T4 và Công ty Đ1 ký Biên bản đối chiếu công nợ với tổng giá trị nghiệm thu đợt 1 sau thuế: 5.570.525.000 đồng; Công ty Đ1 đã tạm ứng cho Công ty T4: 2.193.840.000 đồng; số tiền còn phải thanh toán: 3.376.685.000 đồng.
Số tiền Công ty Đ1 còn nợ Công ty T4 là 3.376.685.000 đồng. Ngày 13 tháng 11 năm 2020, Công ty T4 gửi công văn số 88/QTT đến Công ty Đ1 để yêu cầu Công ty Đ1 thanh toán số tiền còn nợ nêu trên.
Sau khi nhắc nợ nhiều lần Công ty Đ1 không trả số tiền nợ nêu trên. Do đó Công ty T4 tiến hành khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau:
Buộc Công ty Đ1 trả nợ cho Công ty T4 số tiền 3.376.685.000 đồng. Ngoài ra không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
Tại đơn khởi kiện ngày 01/10/2022, Công ty T4 yêu cầu Công ty Đ1 thanh toán tiền lãi tạm tính 28 tháng là 787.893.166 đồng. Tại đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 25/11/2022, Công ty T4 rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Công ty Đ1 trả tiền lãi 787.893.166 đồng.
Về phần khối lượng thanh toán giữa Công ty Đ1 và Chủ đầu tư trị giá 4.542.128.000 đồng. Do có sự chênh lệch giữa khối lượng nghiệm thu trên là do trong quá trình làm hồ sơ thanh toán với Chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và chủ đầu tư chỉ chấp nhận nghiệm thu phần công việc đã hoàn thành toàn bộ bộ phận của công trình. Còn phần khối lượng giữa Công ty Đ1 và Công ty T4 là bao gồm tất cả phần khối lượng đơn vị nhận thầu thực hiện bao gồm khối lượng thi công dở dang tại công trình. Vì vậy tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 2.100.000.000₫ (hai tỷ một trăm triệu đồng). Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu đòi tiền lãi đối với Công ty Đ1.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Ngày 28 tháng 10 năm 2018, Công ty Đ1 có ký Hợp đồng thi công 2810 với Công ty T4 (sau đây gọi là Hợp đồng Thi công) để thực hiện dự án cải tạo và xây dựng hồ nước phục vụ diễn tập cBB, dBB của Trường S. Giá trị hợp đồng là 10.969.202.000 đồng, Công ty Đ1 đã tạm ứng cho Công ty T4 2.193.840.000 đồng theo khoản 4.2 Điều 4 của Hợp đồng thi công.
Công ty T4 khởi kiện Công ty Đ1 yêu cầu thanh toán công nợ là 3.376.685.000 đồng (tổng giá trị sau thuế là 5.570.525.000 đồng đã trừ đi tiền tạm ứng), Công ty Đ1 có ý kiến như sau:
Công ty Đ1 chưa tiến hành nghiệm thu thực tế công trình, xác định khối lượng hoàn thành với Công ty T4. Theo Công ty Đ1 khối lượng hoàn thành chỉ đạt khoảng 03 tỷ đồng, Công ty Đ1 tiến hành nghiệm thu và được thanh toán từ chủ đầu tư cũng là khối lượng khoảng 03 tỷ đồng. Hiện hợp đồng giữa Công ty Đ1 và Chủ đầu tư vẫn đang thực hiện, chưa hết hạn hợp đồng.
Các văn bản xác nhận khối lượng có chữ ký của bà Ngô Thị Việt T1 – Giám đốc Công ty Đ1 là do Công ty T4 nhờ Công ty Đ1 ký và xác nhận giúp. Công ty T4 tự ý xuất hóa đơn giá trị gia tăng 5.064.113.636 đồng, sau thuế là 5.570.525.000 đồng. Sau đó vì cần phải làm sổ sách hợp pháp hóa số tiền nên đã gửi văn bản nhờ Công ty Đ1 xác nhận để Công ty T4 làm việc với Chi cục T5 – C. Công Ty Đ1 ký các văn bản xác nhận giá trị thanh toán là 5.570.5205.000 đồng sau thuế chỉ với mục đích giúp Công ty T4 khớp sổ sách hồ sơ và làm việc với bên thuế được thuận lợi, tránh bị thanh tra, kiểm tra. Công ty Đ1 chưa nhận bất kỳ hồ sơ thanh toán nào từ Công ty T4. Công ty T4 chưa có đủ hồ sơ thanh toán gửi Công ty Đ1 đã tiến hành khởi kiện ra Tòa án là không tuân thủ, không tôn trọng hợp đồng và thỏa thuận của các bên. Đề nghị Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ, các bên tiến hành nghiệm thu, chốt khối lượng thực tế làm căn cứ xác định giá trị thanh toán giữa hai bên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại cấp sơ thẩm có văn bản trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dựa trên việc Công ty T4 đã vi phạm nghiệm trọng việc thực hiện hợp đồng khi không tuân thủ nghĩa vụ nộp tiền bảo đảm thực hiện hợp đồng, tiền bảo lãnh hợp đồng thi công; không lập biện pháp thi công, không có nhật ký công trình. Công ty T4 vi phạm khi sử dụng nhà thầu thứ 3 thi công công trình, không thực hiện nghiệm thu công trình và bàn giao các hạng mục công trình. Công ty T4 không có cơ sở để yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, tiền nợ lãi... khi chưa thực hiện việc thanh lý hợp đồng và tự ý ngừng thi công công trình cũng như tính lãi không đúng quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường S trình bày:
Dự án cải tạo và xây dựng hồ nước phục vụ diễn tập cBB, dBB do Trường S làm chủ đầu tư. Do nhà trường không có chức năng thi công công trình nên đã ký hợp đồng thi công công trình với công ty Đ1. Hợp đồng này hiện công ty Đ1 đang giữ. Việc công ty Đ1 và công ty T4 ký hợp đồng thi công dự án Trường S không biết. Công trình hiện chưa hoàn thành và đang tạm dừng, Trường S đã thanh toán đợt 1 cho công ty Đ1 số tiền 4.542.128.000 đồng. Khởi kiện giữa công ty Đ1 và công ty T4 không liên quan đến nhà trường. Trong vụ án này nhà trường không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2025/KDTMST ngày 03-4-2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Phú Mỹ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh) đã áp dụng: các Điều 30, 35, 40, 244, và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm c khoản 1 Điều 113, Điều 138, 139, 140, 141 và Điều 144 của Luật xây dựng; Điều 26 của của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T4 về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Đ1 thanh toán đợt 1.
- Buộc Công ty TNHH Đ1 thanh toán đợt 1 cho Công ty TNHH T4 số tiền 2.100.000.000 đ (hai tỷ một trăm triệu đồng) theo hợp đồng thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH ngày 28/10/2018.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T4 về việc yêu cầu Công ty TNHH Đ1 thanh toán tiền lãi 787.893.166 đồng (B trăm tám mươi bảy triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, một trăm sáu mươi sáu đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 02-6-2025, bị đơn Công ty TNHH Đ1 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2025/KDTMST ngày 03-4-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo Công ty TNHH Đ1 thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do công ty T4 không cung cấp được các tài liệu cần thiết theo quy định của hợp đồng và pháp luật về xây dựng.
Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định. Quá trình thụ lý vụ án giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 05/2025/KDTM-ST ngày 03-4-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị đơn phải nộp án phí phúc thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1.] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của Công ty TNHH Đ1 (Công ty Đ1) đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên hợp lệ; Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp, các đương sự trong vụ án là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, người đại diện theo quy định của pháp luật của Công ty Đ1 thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy yêu cầu thay đổi nội dung kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu theo quy định Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi nội dung kháng cáo của Công ty Đ1.
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ1 và căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Về nội dung tranh chấp:
Dự án Cải tạo và xây dựng hồ nước phục vụ diễn tập cBB, dBB tại Trường S do Trường S làm chủ đầu tư, theo Quyết định số 220/QĐ-BQP ngày 24/01/2017 của Bộ Q. Tổng mức đầu tư của dự án là 12.840.043.000 đồng.
Ngày 25/4/2017, Trường S và Công ty Đ1 ký Hợp đồng thi công xây dựng số 0505/HĐXD-2017/TSQLQ2 – TH, có nội dung: Trường S là Chủ đầu tư giao cho Công ty Đ1 là Nhà thầu thực hiện việc thi công cải tạo hồ; phạm vi, khối lượng, chất lượng công việc được thể hiện chi tiết trong hồ sơ mời thầu gói thầu số 6, tổng giá trị hợp đồng là 11.080.000.000 đồng. Gói thầu bao gồm hạng mục: Xây dựng đường tràn, Cống hộp bê tông cốt thép, kèm theo phụ lục số 01: Bảng phụ lục đơn giá hợp đồng.
Ngày 28/10/2018, Công ty Đ1 và Công ty T4 ký Hợp đồng thi công số 2810/HĐXD-2018/TH-TH, có nội dung Công ty Đ1 là bên A giao cho Công ty T4 là bên B thi công cải tạo hồ, tổng giá trị hợp đồng là 10.969.202.000 đồng.
Thực hiện hợp đồng, Công ty T4 tiến hành thi công từ ngày 06/10/2018. Công ty Đ1 đã tạm ứng cho Công ty T4 số tiền 2.193.840.000 đồng.
Đến ngày 14/12/2018, Công ty T4 dừng thi công theo yêu cầu của Trường S.
Ngày 16/12/2018, Trường S đã thanh toán Đợt 1 cho Công ty Đ1 với số tiền 4.542.128.000 đồng.
Ngày 10/6/2020, Công ty T4 và Công ty Đ1 ký Biên bản đối chiếu công nợ với nội dung tổng giá trị nghiệm thu đợt 1 sau thuế: 5.570.525.000 đồng; Công ty Đ1 đã tạm ứng cho Công ty T4: 2.193.840.000 đồng. Công ty Đ1 còn nợ Công ty T4 với số tiền 3.376.685.000 đồng.
Công ty T4 cho rằng từ ngày 14/12/2018 công trình đã tạm dừng thi công theo yêu cầu của Chủ đầu tư, Công ty T4 đã thực hiện xong khối lượng công việc theo Hợp đồng. Tuy nhiên, đến nay Công ty T4 và Công ty Đ1 vẫn chưa thực hiện thanh lý hợp đồng. Do Công ty Đ1 chưa thanh toán tiền thi công xây dựng Đợt 1 cho Công ty T4 nên Công ty T4 khởi kiện yêu cầu Công ty Đ1 phải thanh toán số tiền nợ còn lại là 3.376.685.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Công ty T4 rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ và lãi, nay nguyên đơn yêu cầu Công ty Đ1 thanh toán số tiền nợ là 2.100.000.000 đồng.
Bị đơn Công ty Đ1 cho rằng Công ty Đ1 chưa tiến hành nghiệm thu thực tế công trình, xác định khối lượng hoàn thành với Công ty T4, chưa nhận hồ sơ thanh toán từ Công ty T4 nên Công ty Đ1 chưa thể quyết toán cho Công ty T4. Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Xét thấy:
[2.2.1] Hợp đồng thi công xây dựng số 0505/HĐXD-2017/TSQLQ2 – TH ngày 25/4/2017 ký kết giữa Trường S và Công ty Đ1 là hợp đồng trọn gói theo Luật Đấu thầu năm 2013 và các hướng dẫn tại Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014, Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ.
Tại mục d, mục 16.2, Điều 16 Phần 2 của Hợp đồng trên (BL590), Nhà thầu giao thầu phụ toàn bộ công trình hoặc chuyển nhượng Hợp đồng mà không có sự thỏa thuận của Chủ đầu tư là một trong các trường hợp Chủ đầu tư được đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Chủ đầu tư Trường S xác định việc Công ty Đ1 ký hợp đồng giao lại cho Công ty T4 thi công dự án thì Trường S không biết. Công trình hiện chưa hoàn thành và đang tạm dừng. Căn cứ hồ sơ thanh toán đợt 1 ký ngày 16/12/2018 giữa Trường S, Công ty Đ1 và Công ty cổ phần T6 xác nhận công ty Đ1 đề nghị Trường S thanh toán đợt 1 số tiền 4.542.128.000 đồng, trong đó T2 Sĩ quan Lục quân 2 đã tạm ứng 3.300.000.000đồng. Trong vụ án này, Trường S không có yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét.
[2.2.2] Công ty T4 và Công ty Đ1 đều là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp và đăng ký kinh doanh về lĩnh vực xây dựng. Hợp đồng thi công 2810/HĐXD-2018/TH-TH và phụ lục số 01 kèm theo được ký kết giữa Công ty T4 và Công ty Đ1 được ký hoàn toàn tự nguyện, người ký đúng thẩm quyền (đều là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp), nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật. Đồng thời quá trình tố tụng Chủ đầu tư Trường S xác nhận việc ký kết Hợp đồng thi công số 2810/HĐXD-2018/TH-TH, Chủ đầu tư không có ý kiến phản đối. Do đó, Hợp đồng thi công số 2810/HĐXD-2018/TH-TH phù hợp với Điều 139 Luật Xây dựng nên có hiệu lực pháp luật, phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên.
[2.2.3] Về nghĩa vụ thi công của Công ty T4:
Hồ sơ thanh toán Đợt 1 do Trường S cung cấp cho Tòa án gồm: Hợp đồng thi công xây dựng số 0505/HĐXD-2017/TSQLQ2 – TH ngày 25/4/2017, Nhật ký công trình từ ngày 06/10/2018 đến ngày 14/12/2018, hồ sơ thanh toán đợt 1 ký ngày 16/12/2018 được ký kết giữa Trường S và công ty Đ1 và Công ty cổ phần T6, đã xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán (BL573-599).
Các tài liệu, chứng cứ do Công ty T4 cung cấp cho Tòa án gồm: Hợp đồng Thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH, Nhật ký công trình từ ngày 06/10/2018 đến ngày 14/12/2018, hồ sơ thanh toán đợt 1 ký ngày 16/12/2018 giữa công ty Đ1 và công ty T4 về việc xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán, Hồ sơ chất lượng, Tập Bản vẽ thiết kế thi công (BL398-448); biên bản nghiệm thu khối lượng xây lắp hoàn thanh (thanh toán đợt 1) kết luận thống nhất nghiệm thu khối lượng xây lắp hoàn thành (có chi tiết kèm theo) khối lượng nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng (BL 56); Bảng xác định khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán (BL 51-55); Bảng diễn giải chi tiết khối lượng thi công hoàn thành đợt 1 (BL 45-50); Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán; bảng tổng hợp giá trị thanh toán đợt 1 giữa công ty Đ1 và công ty T4 (Các tài liệu đều có xác nhận của Công ty Đ1 và Công ty T4).
Qua đối chiếu các tài liệu, chứng cứ nêu trên thì thấy khối lượng công việc, hạng mục thi công theo thỏa thuận tại Hợp đồng Thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH giữa Chủ đầu tư - Công ty Đ1 và Hợp đồng thi công xây dựng số 0505/HĐXD-2017/TSQLQ2 – TH ngày 25/4/2017 giữa Công ty Đ1 - Công ty T4 là trùng khớp với nhau. Nhật ký công trình từ ngày 06/10/2018 đến ngày 14/12/2018 có xác nhận của đại diện Công ty Đ1 và Công ty T4 cũng là nhật ký công trình Công ty Đ1 dùng để lập hồ sơ quyết toán giai đoạn Đợt 1 với Chủ đầu tư Trường S để nhận số tiền 4.542.128.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Đ1 thừa nhận sau khi ký kết hợp đồng với Chủ đầu tư Trường S thì bị đơn ký kết hợp đồng giao lại cho nguyên đơn Công ty T4 thi công toàn bộ Gói thầu số 6 để thi công xây dựng, cải tạo hồ (theo Bản vẽ hoàn công lập 16/12/2018 duyệt bởi Trường S) và dùng chính khối lượng của Công ty T4 đã thi công để quyết toán, nhận thanh toán đợt 1.
Tại Công văn số 89/QH-BĐHL ngày 13/01/2020 của Cục Q1 và Công văn số 192/TM-QH ngày 23/01/2020 của Bộ T7 – Bộ Q về kết quả thực hiện thi công công trình xây dựng như sau: “Trường sỹ quan lục quân 2 đã tổ chức thi công xây dựng đập ngăn nước bằng nguồn vốn quốc phòng 5,0 tỷ đồng do Bộ cấp, khối lượng hoàn thành đảm bảo đủ kinh phí (Trường sỹ quan lục quân 2 đã có hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành với Cục T8)”.
Do đó, có căn cứ xác định Công ty T4 đã thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thi công số 2810/HĐXD-2018/TH-TH và phụ lục kèm theo. Quá trình tố tụng, các bên đều thừa nhận công trình thi công từ ngày 06/10/2018 đến ngày 14/12/2018 thì Chủ đầu tư Trường S yêu cầu tạm dừng thi công. Việc dừng thi công là lý do khách quan, không phải lỗi của nguyên đơn.
[2.2.4] Về nghĩa vụ thanh toán của Công ty Đ1:
Tại mục 8.2, Điều 8 Phần II Hợp đồng thi công số 2810/HĐXD-2018/TH-TH (BL21) quy định:
“Bên giao thầu sẽ thanh toán cho bên nhận thầu đến 92% giá trị khối lượng hoàn thành giai đoạn hoặc hạng mục công trình được các bên liên quan nghiệm thu.
Bên giao thầu sẽ thanh toán cho bên nhận thầu khi bên nhận thầu cung cấp đầy đủ hồ sơ khối lượng nghiệm thu (Bao gồm các văn bản, thủ tục có chữ ký xác nhận của chủ đầu tư, tư vấn giám sát, bên giao thầu)”.
Tại Công văn số 32/CV-QTT2020 ngày 06/6/2020 của công ty T4 gửi Chi cục thuế T5 - Côn Đảo có nội dung theo hợp đồng 2810/HĐXD-2018/TH-TH, khối lượng giá trị thanh toán đợt 1 là 5.570.525.000đồng đã được hai bên xác nhận và đã xuất hóa đơn, công ty Đ1 xác nhận phía dưới công văn này với nội dung “Ngày 10/6/20 B1 xác nhận công nợ này là đúng, Cty T.Hà chịu trách nhiệm về việc xác nhận này” và có chữ ký của bà T1. Đại diện bị đơn cho rằng việc bà T1 ký vào phần xác nhận số nợ trên là do phía công ty T4 nhờ ký hộ để hợp thức hóa việc quyết toán thuế. Tuy nhiên, quá trình tố tụng Công ty Đ1 cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện việc Công ty T4 nhờ Công ty Đ1 ký xác nhận nội dung trên chỉ nhằm mục đích hợp thức hồ sơ nên không đủ cơ sở xác định việc Công ty Đ1 ký hồ sơ thanh toán là giả tạo. Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/6/2020 xác định số nợ giữa nguyên đơn và bị đơn đã có chữ ký, con dấu xác nhận của Công ty Đ1 và Công ty T4. Trên thực tế, ngày 28/12/2018, Công ty T4 đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 0000194 cho người mua hàng là Công ty Đ1 với giá trị 5.064.113.636 đồng và sau thuế là 5.570.525.000 đồng để thanh toán giá trị hợp đồng số 2810/HĐXD-2018/TH-TH.
Căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/6/2020 đã xác định số nợ giữa nguyên đơn và bị đơn, tổng giá trị nghiệm thu đợt 1 sau thuế là 5.570.525.000 đồng, giá trị đã thanh toán 2.193.840.000 đồng, còn lại 3.376.685.000 đồng chưa thanh toán. Tuy nhiên quá trình tố tụng phía nguyên đơn đã tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện từ 3.376.685.000 đồng xuống số tiền là 2.100.000.000 đồng (tương đương 62,1% giá trị công trình).
Ngày 13/11/2020, Công ty T4 gửi Công văn số 88/QTT đến Công ty Đ1 yêu cầu thanh toán số nợ 3.376.685.000 đồng. Đến ngày 25 tháng 11 năm 2020, Công ty Đ1 gửi Công văn số 2511/TH tới Công ty T4 để trả lời công văn số 88/QTT với nội dung “Giữa 2 công ty không ký kết và thực hiện hợp đồng số 2810/HĐXD-2018/TH-TH ngày 28/10/2018 và số tiền nợ nói trên như nội dung công văn số 88/QTT ngày 13/11/2020 mà Công ty T4 đã gửi”.
Trong khi đó, giữa Công ty Đ1 và Chủ đầu tư đã nghiệm thu công trình đợt 1 và nhận tiền thanh toán từ Chủ đầu tư từ năm 2018. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng số 2810/HĐXD-2018/TH-TH ngày 28/10/2018 là có thật. Việc bị đơn cho rằng chưa tiến hành nghiệm thu thực tế công trình, xác định khối lượng hoàn thành, chưa nhận hồ sơ thanh toán nên chưa thể quyết toán cho nguyên đơn là không có căn cứ. Do đó, có cơ sở xác định Công ty Đ1 có lỗi vi phạm nghĩa vụ thanh toán về thời hạn thanh toán theo quy định tại mục 8.3 Điều 8 của hợp đồng thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH ngày 28/10/2018.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty Đ1 phải thanh toán số tiền thi công xây dựng đợt 1 số tiền là 2.100.000.000₫ (hai tỷ một trăm triệu đồng) theo hợp đồng thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH ngày 28/10/2018 cho Công ty T4 là có căn cứ.
[3] Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định Bản án sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T4 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Các nội dung nêu trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa đã được cấp sơ thẩm xem xét đánh giá. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Đ1.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác đơn kháng cáo của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp hết 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Công ty T4 đã nộp số tiền trên nên Công ty Đ1 phải thanh toán lại cho Công ty T4 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả tiền theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty TNHH Đ1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Đ1, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2025/KDTMST ngày 03-4-2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Phú Mỹ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 Thành phố Hồ Chí Minh);
Căn cứ vào các Điều 30, 35, 40, 244, và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm c khoản 1 Điều 113, Điều 138, 139, 140, 141 và Điều 144 của Luật xây dựng năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T4 về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH Đ1 thanh toán đợt 1.
- Buộc Công ty TNHH Đ1 thanh toán đợt 1 cho Công ty TNHH T4 số tiền 2.100.000.000 đ (hai tỷ một trăm triệu đồng) theo hợp đồng thi công xây dựng công trình số 2810/HĐXD-2018/TH-TH ngày 28/10/2018.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T4 về việc yêu cầu Công ty TNHH Đ1 thanh toán tiền lãi 787.893.166 đồng (B trăm tám mươi bảy triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, một trăm sáu mươi sáu đồng).
- Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty Đ1 phải thanh toán lại cho Công ty T4 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
- Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Buộc Công ty TNHH Đ1 phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền 74.000.000đ (bảy mươi tư triệu đồng).
Hoàn trả cho Công ty TNHH T4 số tiền 56.082.000đ (Năm mươi sáu triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006498 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Buộc Công ty TNHH Đ1 phải nộp án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp 2.000.000đ (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003270 ngày 14/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; như vậy Công ty TNHH Đ1 đã nộp xong án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (31/12/2025).
Nơi nhận:
- - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- - TAND Khu vực 12, TP.HCM;
- - Phòng THADS Khu vực 12, TP.HCM;
- - Các đương sự;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (35).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Phạm Xuân Hưng
Bản án số 405/2025/KDTM-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 405/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty T tranh chấp hợp đồng xây dựng với công ty H
