| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 402/2025/DS-PT
Ngày: 23/12/2025
V/v “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Thu Hằng.
Các Thẩm phán: ông Y Phi KBuôr, bà Đinh Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Trà, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Công, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 461/2025/TLPT-DS ngày 13/11/2025 về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 476/2025/QĐXPT-DS ngày 10 tháng 12 năm 2025 của TAND tỉnh Đắk Lắk, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số H T, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Bị đơn: bà Lê Thị C, sinh năm 1949. Địa chỉ: Số A Hồ X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phạm D, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số A Hồ X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
3.2. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số A Hồ X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
3.3. Ông Phạm H1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số A Hồ X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt khi tuyên án.
3.4. Bà Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số A đường P, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
3.5. Bà Hoàng Thị Ngọc T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số A Hồ X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. ĐT: 0916.966.767 (là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm D, ông Phạm Văn H, ông Phạm H1, bà Phạm Thị Thu H2). Có mặt.
* Người kháng cáo: bị đơn bà Lê Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N trình bày:
Năm 1991, tôi có mua một mảnh vườn của ông Phạm Xuân B trú tại 1 đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là số A đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk) diện tích là 140m², chiều rộng 5m, chiều dài 28m với giá thỏa thuận là 11 (mười một) chỉ vàng y, đất có tứ cận lúc mua bán như sau: phía Đông giáp hẻm Phan Bội C1, phía Tây giáp khu tập thể Công ty xây lắp, phía Nam giáp nhà ông Phạm Xuân B, phía Bắc giáp nhà ông Đỗ Quang H3. Gia đình tôi đã giao cho ông B 6 chỉ vàng và tiền mặt là 1.050.000 đồng. Tổng cộng quy ra bằng 09 chỉ vàng. Hai bên có làm Giấy biên nhận bán vườn. Số vàng còn lại 02 chỉ hai bên thỏa thuận bằng miệng khi nào xong giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tôi sẽ giao đủ số vàng còn lại cho ông B. Tuy nhiên, ông B không thực hiện như đã thỏa thuận nên tháng 10 năm 1993 tôi đã làm đơn khởi kiện Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột để nghị Tòa án buộc ông B tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/DS-ST ngày 25/5/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột đã quyết định: chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Hồng N. Buộc ông B phải có trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục mua bán đất vườn và giao toàn bộ diện tích 140m² đất tại địa chỉ khối I, phường T, thị xã B (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk). Ông N có nghĩa vụ trả tiếp cho ông B 08 chỉ vàng theo trị giá vườn theo thời điểm định giá ngày 27/4/1994.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tôi đã nộp đủ 08 chỉ vàng cho Đội thi hành án thành phố B. Tuy nhiên, ông B không chịu giao đất cho tôi như quyết định bản án đã tuyên. Ngày 17/01/1997, ông B đã tự nguyện giao một phần đất, riêng phía trước của mảnh đất, ông B xin hoãn lại 01 tháng sẽ dỡ và di dời về phần đất của ông để trả đất cho gia đình tôi. Nhưng từ đó đến nay, gia đình tôi đã nhiều lần đến nhà ông B đòi lại đất nhưng ông B không chịu giao trả và còn cho cả vợ và con ra chửi bới, thách đố. Ông B đã chết năm 2014, bà Lê Thị C là vợ ông B đang quản lý và sử dụng diện tích đất trên của tôi.
Tôi đề nghị Tòa án xét xử buộc bà Lê Thị C phải trả lại toàn bộ diện tích đất mà gia đình bà C đã lấn chiếm là 140m², rộng 5m, dài 28m cho tôi, đất có tứ cận:
+ Phía Đông giáp đường H;
+ Phía Tây giáp thửa đất số 113, 112;
+ Phía Nam giáp thửa đất số 110;
+ Phía Bắc giáp thửa đất số 109.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì hiện nay diện tích đất này chỉ còn 120m² theo kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ nên tôi xin thay đổi nội dung yêu cầu để phù hợp với thực tế hiện trạng hiện nay. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị C và bà Hoàng Thị Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày hiện nay diện tích đất này đang do bà Lê Thị C và ông Phạm Văn H cùng quản lý, sử dụng. Do đó, tôi yêu cầu bà Lê Thị C, ông Phạm Văn H phải trả cho tôi diện tích đất 120m², có tứ cận phía Bắc giáp thửa 109 dài 23,2m, phía Nam giáp thửa 110 dài 23,7m, Phía Đông giáp đường H dài 5m, Phía Tây giáp thửa 112, 113 dài 5,01m, đất tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk). Đối với tài sản trên đất là của bà C, ông H xây dựng, nay tôi đề nghị bà C, ông H phải tháo dỡ các tài sản trên đất và trả lại diện tích đất trống cho tôi.
Đối với nghĩa vụ trả vàng theo bản án số 13/DS-ST ngày 24/5/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tôi đã nộp 08 chỉ vàng 97% tại Cơ quan thi hành án thị xã B ngày 22/3/1995.
Đối với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá thì tôi đồng ý và không có ý kiến gì.
* Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị C trình bày:
Nguồn gốc thửa đất của tôi: vào năm 1985, tôi được Tỉnh đội tỉnh Đắk Lắk cấp một thửa đất có diện tích 300m², địa chỉ thửa đất tại 1 P, Tp ., nay là số A, A Hồ X, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Thời điểm đó tôi là công nhân quốc phòng nấu cơm trong trường quân sự địa phương, để thuận tiện nên quyết định cấp đất ghi là cấp đất cho chồng tôi ông Phạm Xuân B.
Đến năm 1994, ông N khởi kiện tại Tòa án yêu cầu gia đình tôi phải giao diện tích đất 100m² thì tôi mới biết sự việc là vào năm 1991, chồng tôi là ông Phạm Xuân B chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hồng N diện tích đất 100m² (nằm trong phần diện tích đất nói trên) với giá 11 chỉ vàng, ông N đã trả cho ông B 9 chỉ vàng, còn nợ lại 02 chỉ vàng. Tôi cũng không biết chính xác là ông B chuyển nhượng cho ông N hay là bố ông N. Ông B chết năm 2014. Ông B nhận vàng mua đất từ ông N và sử dụng như thế nào thì tôi không biết và tôi cũng không sử dụng số vàng này. Tại thời điểm khi có Quyết định thi hành án đối với bản án số 13/DS-ST ngày 24/5/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột, ông N trình bày có nộp đủ 08 chỉ vàng (theo quyết định của bản án) tại Đội thi hành án thì gia đình tôi chưa nhận 08 chỉ vàng này.
Toàn bộ diện tích đất 300m² tại địa chỉ số A, A Hồ X, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) vẫn do tôi quản lý, sử dụng. Hiện nay tôi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 247,1m², thửa đất số 110, tờ bản đồ số 23; phía Đông giáp đường H, Phía Tây giáp thửa 111, 112, 253, Phía Bắc giáp thửa 231, Phía Nam giáp thửa 154 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 776476 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 04/8/2010 mang tên hộ ông Phạm Xuân B, bà Lê Thị C. Ngày 14/11/2014 được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 899334, diện tích 241,8m², thửa đất số 110, tờ bản đồ số 23, nguồn gốc sử dụng được thừa kế đất được Nhà nước công nhận Quyền sử dụng đất, cấp đổi do giảm diện tích; ghi nhận biến động trang 4 tặng cho ông Phạm H1, bà Hoàng Thị Ngọc T ngày 16/01/2024. Diện tích khoảng 100 m² còn lại hiện đang có tranh chấp với gia đình ông Nguyễn Hồng N chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tôi và ông Phạm Xuân B có 04 người con: Phạm D, Phạm Văn H, Phạm H1, Phạm Thị Thu H2. Căn nhà tại địa chỉ số A đường H, phường B, tỉnh Đắk Lắk xây dựng trên thửa đất mà đang tranh chấp trong vụ án này thì do con trai tôi là ông Phạm Văn H xây dựng từ khoảng năm 1997 là nhà gỗ, đến khoảng năm 1999 xây nhà cấp 4, tường gạch, mái lợp tôn và ở cùng tôi từ đó đến năm 2024 thì sửa nhà, lợp lại tôn, đóng trần thạch cao, xây thêm nhà vệ sinh.
Ông Nguyễn Hồng N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc tôi phải trả lại phần diện tích đất 120m² cho ông Nguyễn Hồng N thì tôi không đồng ý vì việc chuyển nhượng diện tích đất là do ông Phạm Xuân B ký kết với ông Nguyễn Hồng N hay là bố ông Nguyễn Hồng N thì gia đình tôi hoàn toàn không biết, chỉ sau này Tòa án giải quyết thì gia đình mới biết sự việc. Ông B đã chết, diện tích đất trên tôi và con là ông Phạm Văn H đang ở. Tôi chỉ giải quyết trả lại số tiền, vàng mà ông B đã nhận của ông N cho ông N. Việc mua bán đất giữa ông B và ông N thì tôi không có ký giấy bán, nhà tôi đông con nên tôi để đất cho các con ở chứ không đồng ý bán cho ông N, và không có việc trả đất cho ông N.
Đối với căn nhà, tài sản trên đất đang tranh chấp hiện nay là do ông H là con trai tôi xây dựng, sở hữu. Tôi chỉ ở nhờ cùng nhà với ông H, tôi cũng có công sức đóng góp cho ông H mượn tiền xây nhà, nhưng đó là việc giữa mẹ con tôi, tôi không có ý kiến gì, không yêu cầu giải quyết gì trong vụ án này.
Đối với việc ông N xác định đã nộp 8 chỉ vàng 97% tại Cơ quan thi hành án thị xã B thì tôi xác định là gia đình tôi không ai biết, không ai nhận 08 chỉ vàng nói trên.
Đối với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thì tôi đồng ý không có ý kiến gì.
* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm D, ông Phạm Văn H, ông Phạm H1, bà Phạm Thị Thu H2 là bà Hoàng Thị Ngọc T trình bày:
Vào khoảng năm 1985, gia đình bà Lê Thị C được Tỉnh đội Đắk Lắk cấp một thửa đất diện tích 300m² tại địa chỉ 1 P, thành phố B nay địa chỉ là số A, A Hồ X, phường B, tỉnh Đắk Lắk cấp theo quyết định của Tỉnh đội cấp cho ông Phạm Xuân B. Trong quyết định cấp đất có kèm theo các điều kiện như sau:
1. Không được mua bán tặng cho, đổi chác với tất cả các cá nhân, tập thể nào trong hoặc ngoài quân đội.
2. Những người được thừa kế là vợ và con cháu theo Luật hôn nhân đã quy định.
Đến khoảng thời gian năm 1991 ông B đã tự ý quyết định bán cho ông Nguyễn Hồng N ở địa chỉ H T, phường T, thành phố B một phần diện tích đất trên mà gia đình vợ và các con không hề hay biết trong khi đó ông B chính là người chưa có hộ khẩu tại thửa đất trên (đến năm 2000 con ông B mới chuyển khẩu từ huyện M’rắk về địa chỉ trên).
Đến thời gian năm 1994, gia đình bà C nhận được yêu cầu của Tòa án thị xã B buộc phải giao một phần đất cho ông N thì lúc đó bà C và các con mới biết là ông B bán cho ông N một mảnh vườn tại phường T diện tích 5mx28m (trên đất có trồng tiêu) với số tiền là 11 chỉ vàng và đã nhận trước 9 chỉ vàng với hình thức mua bán chỉ là 1 tờ giấy viết tay giữa ông B và ông N, không được thông qua sự đồng ý của vợ và các con lúc đó đã đủ tuổi trưởng thành.
Nội dung bán đất bố tôi chỉ ghi là nhượng lại một phần đất cho ông N tại phường T chứ không ghi rõ cụ thể là thửa đất đó tại vị trí ở đâu, đông, tây, nam, bắc giáp với thửa đất nào. Vậy tại sao Tòa án lại dựa vào 1 tờ giấy viết tay sơ sài như vậy lại quyết rằng đó là thửa đất tại 10 Hồ X. Tại sao Tòa án không căn cứ vào Luật mua bán đất đai xem việc mua bán như vậy là đã đúng hay chưa, thông tin trên giấy có xác định được vị trí nào không mà đã quyết định rằng ông B đã bán đất cho ông N thửa đất tại địa chỉ 1 P.
Trong khi đất này là đất ở chứ không phải là đất vườn cũng không có trồng tiêu như trong giấy đã ghi, vài thời điểm đó ông B cũng có một mảnh vườn 1.000m² tại đường Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk được Hội cựu chiến binh giao đất thông qua hình thức đấu thầu lại của ông Tống Văn X trên đất có trồng cà phê và các loại cây khác. Vậy thì có phải bố tôi bán thửa đất đó cho ông N hay không tại sao Tòa án không xem kỹ đã giải quyết và quyết định đó là thửa đất gia đình tôi đang sinh sống tại đường H. Khi thi hành án thành phố B đến thi hành án thì chỉ chấp nhận làm việc với ông B và không cho bà C hay các con tham gia đã đúng với quy định pháp luật hay chưa, khi Tòa án gọi bà C lên làm việc thì tất cả các trình bày của bà C không được ghi nhận và không có biên bản lời khai của bà C. Sự việc kéo dài kiện tụng nhau, rất nhiều lần bà C nhờ người thương lượng với ông N xin gửi lại số tiền mà ông B đã nhận nhưng ông N không đồng ý. Gia đình bà C vì ảnh hưởng việc tranh chấp nên cũng chưa được cấp sổ đỏ cho mảnh đất trên. Đến năm 2014, ông B chết nhưng ông N vẫn im lặng không chịu hòa giải với bà C.
Đến thời điểm tháng 10/2023, ông N lại gửi đơn đến Ủy ban nhân dân phường T khởi kiện với nội dung đòi lại đất bị lấn chiếm. Đến thời điểm này thửa đất trên đang được gọi là đất tranh chấp chứ không phải là đất bị lấn chiếm vì nó vẫn đang thuộc quyền sở hữu của bà C. Hàng năm, bà C là người đóng thuế sử dụng đất cho nhà nước và hiện tại ba người con trai hợp pháp của ông B đang ở tại thửa đất trên. Vì những lý do trên, gia đình tôi kính mong cơ quan có thẩm quyền, xem xét lại và xét xử một cách công tâm, đúng với pháp luật để gia đình bà C và ông N được hiểu và thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ cho nhau không ai ép buộc ai.
Vì những lý do trên, tôi thay mặt các con của bà C kính nhờ cơ quan pháp luật có thẩm quyền xem xét lại quá trình của vụ việc, ghi nhận ý kiến và lời khai của cả hai bên. Đề nghị Tòa án điều tra lại từ những chi tiết ban đầu việc mua bán như vậy đã đúng hay chưa, ông N có lợi dụng chức vụ của mình để ép người dân hay không. Kính mong cơ quan có thẩm quyền, xem xét lại và xét xử một cách công tâm, đúng với pháp luật để gia đình bà C và ông N được hiểu và thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ cho nhau không ai ép buộc ai.
Đối với căn nhà, tài sản trên đất đang tranh chấp hiện nay là do ông Phạm Văn H đầu tư xây dựng, sở hữu và đang ở trong nhà. Ông H thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước đối với việc sử dụng quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất. Bà Lê Thị C là mẹ đẻ của ông H, ở cùng ông H trong căn nhà nói trên, bà C không có đóng góp trong việc xây dựng nhà. Ông H không yêu cầu giải quyết gì trong vụ án này.
Đối với việc ông N xác định đã nộp 8 chỉ vàng 97% tại Cơ quan thi hành án thị xã B thì tôi xác định là gia đình tôi không ai biết, không ai nhận 08 chỉ vàng nói trên.
Đối với kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thì tôi đồng ý không có ý kiến gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2025/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N.
Buộc bà Lê Thị C, ông Phạm Văn H phải trả cho ông Nguyễn Hồng N diện tích đất 120m², thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 23.
Giao cho ông Nguyễn Hồng N quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt căn nhà cấp 4 một tầng diện tích 120m². Ông Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Văn H số tiền 320.282.676 đồng là trị giá căn nhà.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04 tháng 9 năm 2025, bị đơn bà Lê Thị C kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng ý kết quả xét xử sơ thẩm; đồng ý thanh toán cho ông Phạm Văn H số tiền 320.282.676 đồng là trị giá căn nhà.
- Bị đơn bà Lê Thị C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà C đề nghị được trả cho nguyên đơn ông N 08 chỉ vàng mà ông B (chồng bà C) đã nhận của ông N do tự ý chuyển nhượng nhà đất mà không hỏi ý kiến các thành viên trong gia đình và xác định không có đồng ý việc ông B chuyển nhượng nhà đất cho ông N.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm D, ông Phạm Văn H, ông Phạm H1, bà Phạm Thị Thu H2: bà Hoàng Thị Ngọc T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị C.
- Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật luật tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị C trong thời hạn luật định và hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa một phần bản án sơ thẩm về quan hệ tranh chấp, án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
+ Bị đơn bà Lê Thị C kháng cáo và được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
+ Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm D, Phạm Văn H, bà Phạm Thị Thu H2 vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền của ông D, ông H, bà H2 là bà Hoàng Thị Ngọc T có mặt. Do đó, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định tiếp tục xét xử.
+ Quan hệ pháp luật tranh chấp: tại Bản án số 13/DS-ST ngày 24/5/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột đã quyết định:
“Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Hồng N.
Buộc anh Nguyễn Xuân B1 phải có trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục giấy tờ mua bán đất vườn và giao toàn bộ diện tích đất 28 x 5m vườn tại K, phường T ngày 18/5/1991.
Anh N phải có nghĩa vụ giao trả tiếp 8 chỉ vàng (lưu hành thị trường) hiện tại cho anh B1 theo giá vườn đã định ngày 27/4/1994”.
Ngày 17/01/1997, ông N và ông B1 thoả thuận về việc giao đất có sự chứng kiến của Đội Thi hành án,Viện kiểm sát và chính quyền địa phương. Ông N đồng ý cho ông B1 để lại căn nhà tạm (quán bán hàng) và công trình phụ trên đất đến tháng 02/1997, ông B1 sẽ dời về phần đất của mình. Đến hạn, ông B1 không dời tài sản để trả lại diện tích đất nêu trên cho ông N.
Ngày 30/3/2014, ông B1 chết. Bà C tiếp tục sử dụng diện tích đất này và để anh Phạm Văn H (con ông B1 bà C) xây dựng nhà trên đất để ở.
Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Đòi lại đất bị lấn, chiếm” là không đúng nên cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ tranh chấp: “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Xét nguồn gốc của diện tích đất tranh chấp:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 13/DS-ST ngày 25/5/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Đội Thi hành án thành phố B đã ra Quyết định thi hành án số 68/THA ngày 07/4/1995, ông N đã thực hiện nghĩa vụ nộp 08 chỉ vàng 97% tại Đội thi hành án thị xã B, theo Phiếu thu số 37 ngày 22/3/1995. Ngày 17/01/1997, ông N và ông B1 thoả thuận về việc giao đất có sự chứng kiến của Đội Thi hành án,Viện kiểm sát và chính quyền địa phương. Ông N đồng ý cho ông B1 để lại căn nhà tạm (quán bán hàng) và công trình phụ trên đất đến tháng 02/1997, ông B1 sẽ dời về phần đất của mình. Tuy nhiên, khi đến hạn giao đất thì ông B1 không thực hiện việc dời tài sản để trả lại diện tích đất nêu trên cho ông N mà ông B1 cùng gia đình vẫn tiếp tục ở trên đất, quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất từ đó đến nay. Như vậy quyền sử dụng đất này là thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông N nhưng bà C sử dụng đất từ năm 1997 đến nay.
Bà Lê Thị C, ông Phạm Văn H cho rằng đất có nguồn gốc do bà C được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. Việc ông B1 là chồng bà C chuyển nhượng cho ông N chưa có sự đồng ý của gia đình bà C, nên bà C không chấp nhận việc chuyển nhượng này. Bà C, anh H cho rằng gia đình bà chưa được nhận số tiền (vàng) chuyển nhượng từ ông N do đó bà không có nghĩa vụ phải giao lại quyền sử dụng đất này cho ông N là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về tài sản trên đất:
Bà C và anh H đều thừa nhận trên thửa đất đang tranh chấp hiện có 01 căn nhà cấp 4 một tầng diện tích 120m² là tài sản của anh H. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N yêu cầu bà C, anh H phải trả lại quyền sử dụng đất, ông N đồng ý nhận căn nhà và thanh toán giá trị cho anh H số tiền 320.282.676 đồng theo kết quả định giá của Hội đồng định giá ngày 09/01/2025.
[2.3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của ông N buộc bà C và anh H là những người hiện nay đang trực tiếp ở trên đất phải trả lại cho ông N quyền sử dụng đất diện tích 120m² thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 23, có giới cận: Bắc giáp thửa 109 dài 23,2m; Nam giáp thửa 110 dài 23,7m; Đông giáp đường H dài 5m; Tây giáp thửa 112, 113 dài 5,01m; đất tọa lạc tại phường B, tỉnh Đắk Lắk có căn cứ nên được chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà C; chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, sửa một phần bản án sơ thẩm về quan hệ tranh chấp và án phí; giữ nguyên nội dung quyết định của bản án dân sự sơ thẩm.
[2.4] Bản án sơ thẩm buộc ông N có nghĩa vụ thanh toán cho anh H số tiền 320.282.676 đồng nhưng không tuyên nghĩa vụ chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là thiếu sót.
[3] Về án phí:
- Ông N có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản cho anh H nên phải chịu án phí dân sự có giá ngạch nhưng Toà án cấp sơ thẩm buộc anh H phải chịu án phí là không đúng quy định.
- Nguyên đơn ông N, bị đơn bà C phải chịu án phí dân sự đối với tranh chấp có giá ngạch nhưng là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2018;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị C.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N:
- Buộc bà Lê Thị C, anh Phạm Văn H phải trả cho ông Nguyễn Hồng N diện tích đất 120m² (bề 23,2 x 5,01)m, thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 23, có giới cận: Bắc giáp thửa số 109 dài 23,2m; Nam giáp thửa số 110 dài 23,7m; Đông giáp đường H dài 5m; Tây giáp thửa 112, 113 dài 5,01m, đất tọa lạc tại phường B, tỉnh Đắk Lắk (phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cũ).
- Giao cho ông Nguyễn Hồng N quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 4 một tầng, kết cấu chính, móng xây đá hộc, tường xây gạch, mái lợp tôn thiếc, nền lát gạch Ceramic 600x600, trần đóng tấm thạch cao; nằm trên diện tích đất 120m² thuộc thửa đất số 231, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại phường B, tỉnh Đắk Lắk (phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cũ) (kèm theo Trích đo hiện trạng thửa đất).
- Ông Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ thanh toán giá trị căn nhà cho ông Phạm Văn H số tiền 320.282.676 đồng (ba trăm hai mươi triệu hai trăm tám mươi hai nghìn sáu trăm bảy mươi sáu).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm, án phí phúc thẩm cho nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N và bị đơn bà Lê Thị C.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất, chi phí định giá, chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai:
Bà Lê Thị C, ông Phạm Văn H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), chi phí định giá là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng), chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất 3.296.000đồng (ba triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng), chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Hồng N được nhận lại các khoản tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), tạm ứng chi phí định giá là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng), tạm ứng chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất 3.296.000 đồng (ba triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng), tạm ứng chi phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) sau khi thu được của bà Lê Thị C, ông Phạm Văn H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND tối cao; - TAND khu vực 1 – Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Thi hành án dân sự Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hằng |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CÁC THẨM PHÁN
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hằng |
11
Bản án số 402/2025/DS-PT ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 402/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng N - Lê Thị C - "Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất"
