Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – THANH HÓA

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày 30 tháng 12 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 -THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà

Bà Mai Thị Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý và bà Phạm Thị G - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thành C, sinh năm 1980 tại xã H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD 038080009901; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, con bà Nguyễn Thị Ồ, có vợ và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016,

Tiền án: Không; tiền sự: Không

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T trong vụ án bị xét xử về tội "Giết người". từ ngày 19/6/2025 đến nay (có mặt)

Người làm chứng:

  1. Ngô Văn L, (vắng mặt)
  2. Ngô Văn X (vắng mặt)
  3. Phạm Minh H (vắng mặt).
  4. Lý Văn H1 (vắng mặt)
  5. Mai Trung H2 (vắng mặt)
  6. Nguyễn Thị Thanh H3 (vắng mặt)
  7. Nguyễn Thanh T1 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h40' ngày 18/6/2025 tại quán B1, địa chỉ thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóá (nay là thôn C xã H, tỉnh Thanh Hóa) Bùi Thành C đến quán để tìm con trai Bùi Tuấn M, sinh năm 2008 thì xảy ra mâu thuẫn, xích mích với anh Ngô Văn X, sinh năm 1997 (chủ quán B1-a) và ông Ngô Văn L, sinh năm 1973, (bố của X) địa chỉ thôn D, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Khi được được mọi người căn ngan thì C bỏ đi đến nhà anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1978 địa chỉ thôn B, xã H, tỉnh Thanh Hóa chơi, khi C đi vệ sinh thì thấy ở khu vực gần bếp có giá dao treo trên tường ngoài sân giếng, nghĩ về bố con nhà ông L đánh và muốn đến quán B-a đề tìm con trai (vì trước đó chưa tìm được con trai) nên C lấy 01 con dao bỏ vào túi quấn bên trái rồi điều khiển xe máy đến bờ mương đối diện quán B1. Ông L1 đi đến chửi bởi, dùng tay đánh C, C rút dao đâm vào người ông L2 01 nhát vào ngực và 02 nhát vào tay phải của ông L. Anh X chạy đến để đánh C, C giơ dao lên thì anh X bỏ chạy, C tiếp tục dùng dao lùa anh X thì bị ngã nên quay lại vị trí lấy xe về nhưng bị nhóm thanh niên tiếp tục đe dọa nên C dùng dao lùa nhóm này. Được mọi người căn ngăn nên C lên xe bỏ về nhà anh T1 và nói về việc dùng dao đâm ông L.

Ngày 19/6/2025, Bùi Thành C đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp 01 con dao dài 31,5cm, có kí hiệu "SEKI-JAPAN", có phần lưỡi bằng kim loại màu nâu dài 18,5cm, loại một lưỡi sắc, đầu nhọn, chỗ rộng nhất lưỡi 5,9cm, chỗ dày nhất của sống 1,8mm, phần tay cầm bằng gỗ màu nâu dài 13cm.

Tại bản Kết luận giám định số 2373/KL-KTHS ngày 08/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 01 vật có kí hiệu " SEKI-JAPAN" gửi giám định là dao sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 "Danh mục dao có tính sát thương cao" ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1.

Bản Kết luận giám định số 470/KLTTCT-PYTH ngày 19/08/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm trên cơ thể của ông Ngô Văn L tại thời điểm giám định là 25% .

Quá trình điều tra, Bùi Thành Công K nhận về hành vi sử dụng dao gây thương tích cho ông Ngô Văn L phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ: Vật chứng 01 con dao được thu giữ của Bùi Thành C giao nộp được niêm phong và chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 5- Thanh Hóa chờ xử lý.

Ngoài hành vi phạm tội bị truy tố này thì Bùi Thành C còn bị khởi tố điều tra, truy tố và bị xét xử 10 năm tù về tội “Giết người” theo bản án Hình sự sơ thẩm số 240/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKS - P1 ngày 03 tháng 12 năm 2025, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Bùi Thành C về tội "Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng" theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.

2

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo Bùi Thành C mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “ Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 63 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024; Điều 20 Nghị định số 149/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Tịch thu, bàn giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh T xử lý 01 con dao có đặc điểm mô tả, kích thước được bàn giao giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

- Tại phiên toà, người làm chứng vắng mặt mặc dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thành C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

3

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 18/06/2025, tại khu vực quán B1-a của anh Ngô Văn X ở thôn C xã H, tỉnh Thanh Hóa, Bùi Thành C đã sử dụng một con dao sắc nhọn dài 31,5cm, có kí hiệu "SEKI-JAPAN” là vũ khí quân dụng có tính sát thương cao gây thương tích cho ông L tỉ lệ tổn thương cơ thế là 25%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Thành C, đã vi phạm vào Điều 63 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024; Điều 20 Nghị định số 149/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Do đó đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước, nên cần xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS sự theo Điều 52 của BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và đã xin đầu thú. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy: Về tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo chứng tỏ coi thường pháp luật, trong lần phạm tội này thì bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử kết án 10 năm tù về tội “Giết người”. Điều đó chứng tỏ bị cáo không biết ăn năn, hối cải coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, việc áp dụng hình phạt tù là cần thiết, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, tính chất công việc và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng đã thu giữ gồm 01 (một) con dao của anh Nguyễn Thanh T1 mà bị cáo tự lấy để sử dụng làm công cụ phạm tội, quá trình điều tra anh T1 không có yêu cầu gì nên không xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vật chứng là vũ khí quân dụng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 63 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ

4

hỗ trợ năm 2024; Điều 20 Nghị định số 149/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, để tịch thu, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh T quản lý, xử lý theo quy định.

[7]. Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thành C phạm tội: “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thành C 01 (một) năm tù, 03 (ba) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày quyết định bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, Điều 63 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024. Tịch thu 01 (một) con dao có ký hiệu đặc điểm được mô tả, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 08/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thanh Hóa, vật chứng được bàn cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh T quản lý, xử lý theo quy định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Thành C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 5 – Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Phòng THADS khu vực 5;
  • - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thanh Hóa;
  • - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger