Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 12 - 2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia

đình, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Xuân Ngọc
  2. Bà Trần Thị Học

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Hằng, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 87/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đàm Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
  2. Bị đơn: Anh Lý Văn Đ, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Đàm Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Văn Đ kết hôn với nhau ngày 04/3/2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị làm ăn chung sống tại nhà anh Đ ở thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Phú Thọ). Tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn đã từ lâu, chị không nhớ rõ thời điểm bắt đầu mâu thuẫn là từ bao giờ, nhưng gần đây mâu thuẫn lên đỉnh điểm, nguyên nhân do anh Đ đi làm ăn xa, thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không có tiếng nói chung. Chị đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 6 năm 2025 âm lịch. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lý Văn T1, sinh ngày 30/3/2007 và cháu Lý Thị Thanh T2, sinh ngày 23/02/2015. Cháu T1 hiện đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu T2 đang ở với chị, ly hôn chị đề nghị chị là người tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lý Thị Thanh T2, sinh ngày 23/02/2015, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn là anh Lý Văn Đ có mặt nhưng cố tình không hợp tác với Tòa án, theo sự hướng dẫn của thư ký Tòa án, anh Đ có viết bản tự khai nhưng bỏ dở nửa chừng, không nêu ra hướng giải quyết vụ án cụ thể về việc nhất trí hay không nhất trí với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Đàm Thị T và cũng không ký vào các biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, biên bản làm việc cũng như các biên bản giao nhận của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không tiến hành làm việc được với anh Lý Văn Đ.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Đàm Thị T được ly hôn anh Lý Văn Đ; về con chung: Giao cháu Lý Thị Thanh T2, sinh ngày 23/02/2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Đàm Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, giải quyết vấn đề giao nuôi con chung đối với anh Lý Văn Đ; anh Định cư T3 tại xã Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa anh Đ vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị T và anh Lý Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Phú Thọ) ngày 04/3/2009, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nhưng gần đây mâu thuẫn lên đỉnh điểm, nguyên nhân do anh Đ thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không có tiếng nói chung. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Xét thấy: Chị T, anh Đ đã ly thân không còn sống chung với nhau, chị T làm công nhân công ty tại Vĩnh Phúc (cũ), còn anh Đ làm xây dựng ở Hà Nội. Vợ chồng cũng ít có thời gian quan tâm, chia sẻ lẫn nhau về cả tình cảm và công việc gia đình, lại thường xuyên mâu thuẫn cãi vã nhau trong cách nuôi dạy con cái, có quá nhiều sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống và anh Đ có xúc phạm, chửi bới chị T dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nữa. Nay xét thấy cuộc hôn nhân của chị T, anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục cuộc sống hôn nhân cũng không có hạnh phúc nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị T cho chị được ly hôn với anh Đ là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3]. Về con chung: Chị Đàm Thị T và anh Lý Văn Đ có 02 con chung là cháu Lý Văn T1, sinh ngày 30/3/2007 và cháu Lý Thị Thanh T2, sinh ngày 23/02/2015. Cháu T1 đã trưởng thành và chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị T xin được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T2. Xét thấy; chị T có công việc ổn định đảm bảo thu nhập cho việc nuôi con, hơn nữa nguyện vọng của cháu T2 cũng muốn được ở với mẹ do vậy cần giao cháu T2 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đàm Thị T phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Anh Lý Văn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Đàm Thị T, cho chị Đàm Thị T được ly hôn với anh Lý Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cháu Lý Thị Thanh T2, sinh ngày 23/02/2015 cho chị Đàm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đàm Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001094 ngày 01 tháng 8 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 9 - Phú Thọ;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Đạo Trù (ĐKKH năm 2009);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thái

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con chung

  • Số bản án: 40/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Thị T - Lý Văn Đ "Tranh chấp Hôn nhân gia đình, nuôi con chung"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger