Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – LÀO CAI

-

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST

Ngày 25-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô;

Bà Đào Thị Thường.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Giỏi - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Hà Văn N, sinh ngày 26/3/1983 tại phường N, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú tổ dân phố Đ, phường N, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ học vấn 9/12; dân tộc Thái; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hà Văn M (đã chết) và bà Lò Thị P, sinh năm 1958; vợ là Lò Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự không; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/10/2025, tạm giam từ ngày 14/10/2025, “Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/10/2025, tại khu vực đường liên xã thuộc tổ dân phố N, phường N, tỉnh Lào Cai; Hà Văn N gặp một người đàn ông mặc quần áo dân tộc Mông, đeo khẩu trang, khoảng 50 tuổi, qua trao đổi Nhất mua của người này 01 gói ma túy, với giá 500.000 đồng. Sau đó N về nhà, cấu một ít ma túy trong gói ra để sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại N gói lại và cất giấu. Ngày 11/10/2025, tại khu vực Quảng trường G thuộc tổ dân phố T, phường N, tỉnh Lào Cai; N bị cơ quan Công an bắt quả tang; thu giữ của Hà Văn N 01 gói nilon màu hồng được hàn túm một đầu, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng, N khai nhận chất bột nén màu trắng là ma tuý, loại Heroin; Nhất cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 697/KL-KTHS ngày 15/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

“Chất bột nén màu trắng trong phong bì niêm phong, ký hiệu M gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,64 gam".

Bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-KV5 ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai đã truy tố bị cáo Hà Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ ma túy mình đã thực hiện; bị cáo đề nghị được nhận lại 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu hồng đã qua sử dụng; số tiền 500.000 đồng; 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng; 01 thẻ căn cước công dân số 015083001743 mang tên Hà Văn N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 03 (ba) năm 05 (năm) tháng đến 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng k hoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,54 gam Heroine còn lại sau giám định; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 (một) mảnh nilon gói; 01 (một) túi nilon.

- Trả lại cho bị cáo: 500.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu hồng, mặt sau có chữ IPHONE, số IMEI: 35329307469656 đã qua sử dụng, gắn sim số 0372499023; 01 (một) thẻ căn cước công dân số 015083001743 mang tên Hà Văn N; 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.

- Án phí: Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người bào chữa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 11/10/2025, tại khu vực Quảng trường G thuộc tổ dân phố T, phường N, tỉnh Lào Cai, Hà Văn N có hành vi tàng trữ 0,64 gam Heroine với mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác của Công an phường N, tỉnh Lào Cai phát hiện, bắt quả tang.

Bị cáo Hà Văn Nhất L người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép ma túy (Heroine) là vi phạm pháp luật hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội. Bị cáo cố ý thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy trái pháp luật của bản thân. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng; ảnh hưởng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại trật tự an toàn xã hội.

[3] Từ những căn cứ trên đã có đủ căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo Hà Văn N thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Nhân thân: Bị cáo Hà Văn Nhất là người thường xuyên sử dụng ma túy, nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu tại địa phương.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tội phạm mà bị cáo Hà Văn N thực hiện là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là lớn; cùng với nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian cai nghiện và giáo dục riêng bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[7] Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Vật chứng và tài sản bị tạm giữ:

- Đối với 0,54 gam Heroine còn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

- 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, đây là những vật cơ quan điều tra dùng để niêm phong vật chứng, xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 mảnh nilon gói; 01 túi nilon xét không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu hồng, mặt sau có chữ IPHONE, số IMEI: 35329307469656 đã qua sử dụng, gắn sim số 0372499023; 01 thẻ căn cước công dân số 015083001743 mang tên Hà Văn N; 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng và số tiền 500.000 đồng sau giám định, đã niêm phong. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Án phí và các vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai là người đã bán Heroine cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác minh được, nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Hà Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 11/10/2025.

3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tiêu hủy: 0,54 gam (không phẩy năm mươi bốn gam) Heroine còn lại sau giám định, đã niêm phong; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 (một) mảnh nilon gói và 01 (một) túi nilon.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu hồng, mặt sau có chữ IPHONE, số IMEI: 35329307469656 đã qua sử dụng, gắn sim số 0372499023; 01 (một) thẻ căn cước công dân số 015083001743 mang tên Hà Văn N; 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng và số tiền 500.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) sau giám định, đã niêm phong.

(Đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Lào Cai)

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hà Văn N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai
  • - VKSND khu vực 5, tỉnh Lào Cai
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng THADS khu vực 5, tỉnh Lào Cai
  • - Bị cáo;
  • - UBND phường Nghĩa Lộ (TB);
  • - Lưu HS, TA, THA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 40/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 11/10/2025, tại khu vực Quảng trường Golden Field thuộc tổ dân phố Tông Pọng, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai, Hà Văn N có hành vi tàng trữ 0,64 gam Heroine với mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác của Công an phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai phát hiện, bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger