Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 12 - 2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia

đình, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Xuân Ngọc
  2. Bà Trần Thị Học

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Hằng, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thuỳ Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 264/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Phú Thọ “có mặt”.
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Phú Thọ “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là anh Trần Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Ngọc A kết hôn với nhau ngày 24/6/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ) trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống cùng bố, mẹ được vài năm thì ra ở riêng ngay tại gần đó là thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn Q, xã T, tỉnh Phú Thọ). Tình cảm vợ chồng thời gian đầu vẫn hoà thuận. Đến giữa năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thỉnh thoảng có xảy ra cãi vã. Anh làm tự do, đặc thù công việc phải đi lại nhiều nên ít khi ở nhà. Hơn nữa theo anh, chị Ngọc A có mối quan hệ ngoài hôn nhân mà anh không thể chấp nhận được. Anh chị đã ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Hiện tại anh xác định không còn tình cảm với chị Ngọc A. Nay anh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như ban đầu và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ngọc A.

Về con chung: Anh Q xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Trần Duy K, sinh ngày 18/3/2012 và cháu Trần Tiến Đ, sinh ngày 30/9/2013. Hiện hai cháu đang ở với chị Ngọc A. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu K và cháu Đ, anh không yêu cầu chị Ngọc A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị xác nhận thời gian, địa điểm kết hôn, nơi ở sau khi kết hôn như anh Q trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng chị bình đẳng, ít cãi vã nhau, chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hôn nhân, không đến mức trầm trọng dẫn đến cả hai phải ly hôn. Tuy nhiên, chị đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ trước tết năm 2025 đến nay do một số lý do cá nhân. Nay chị xác định vẫn còn tình cảm với anh Q và không đồng ý ly hôn với anh Q. Chị mong muốn gia đình được đoàn tụ để các con có một gia đình trọn vẹn. Nay chị vẫn giữ nguyên quan điểm như ban đầu, không nhất trí ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị Ngọc A xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Trần Duy K, sinh ngày 18/3/2012 và cháu Trần Tiến Đ, sinh ngày 30/9/2013. Hiện hai cháu đang ở với chị. Vì không nhất trí lý hôn nên chị không yêu cầu giải quyết về con chung. Giả sử trong trường hợp nếu Toà án giải quyết ly hôn thì chị đề nghị chị được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Trần Duy K và cháu Trần Tiến Đ, chị yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/cháu/tháng kể từ tháng 01/2026 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị Ngọc A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho anh Trần Văn Q được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc A; về con chung: Giao cháu Trần Duy K, sinh ngày 18/3/2012 cho chị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Trần Tiến Đ, sinh ngày 30/9/2013 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; anh Q phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Trần Văn Q có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn, giải quyết vấn đề giao nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị Ngọc A; chị Ngọc A cư trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị Ngọc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ) ngày 24/6/2014, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thỉnh thoảng có xảy ra cãi vã. Anh Q làm tự do, đặc thù công việc phải đi lại nhiều nên ít khi ở nhà. Hơn nữa theo anh Q, chị Ngọc A lại có mối quan hệ ngoài hôn nhân nên anh không thể chấp nhận được, anh chị đã ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Trước đó năm 2016 anh Q đã làm đơn xin ly hôn sau đó rút đơn, hiện tại anh Q xác định không còn tình cảm gì với chị Ngọc A, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ngọc A. Chị Ngọc A xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn xin được đoàn tụ nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn nào hoặc tự hai bên hòa giải để về đoàn tụ gia đình với nhau mà vẫn sống ly thân. Xét thấy: Anh Q, chị Ngọc A đã không còn sống chung với nhau, anh Q thường xuyên đi làm xa nhà. Vợ chồng cũng ít có thời gian quan tâm, chia sẻ lẫn nhau về cả tình cảm và công việc gia đình, bất đồng trong cách sống, hiện tại anh chị đã không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống dẫn đến không còn hạnh phúc nữa. Anh Q xác định không còn tình cảm với chị Ngọc A và kiên quyết xin ly hôn, xét thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục cuộc sống hôn nhân cũng không có hạnh phúc nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh Q cho anh được ly hôn với chị Ngọc A là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3]. Về con chung: Anh Trần Văn Q và chị Nguyễn Thị Ngọc A có 02 con chung là cháu Trần Duy K, sinh ngày 18/3/2012 và cháu Trần Tiến Đ, sinh ngày 30/9/2013. Hiện hai cháu đang ở với chị Ngọc A, anh Q và chị Ngọc A đều đề nghị được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K và cháu Đ, xét nguyện vọng của các đương sự là phù hợp và các đương sự đều có công việc ổn định đảm bảo thu nhập cho việc nuôi con. Tuy nhiên theo nguyện vọng của các cháu K và Đ thì cần giao cháu Trần Duy K cho chị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Trần Tiến Đ cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với ý chí của các cháu và phù hợp với quy định của pháp luật. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Anh Q, chị Ngọc A không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn Q phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Chị Nguyễn Thị Ngọc A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Q, cho anh Trần Văn Q được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc A.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Duy K, sinh ngày 18/3/2012 cho chị Nguyễn Thị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Trần Tiến Đ, sinh ngày 30/9/2013 cho anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Anh Q, chị Ngọc A không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003942 ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận anh Q đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;
  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Tam Dương Bắc (ĐKKH năm 2014);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con chung

  • Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Q - Nguyễn Thị Ngọc A "Tranh chấp Hôn nhân gia đình, nuôi con chung"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger