|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 12 - 2025 V/v Tranh chấp HNGĐ- Ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đình Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Mến, Cán bộ Hưu trí xã Tân Lạc.
Bà Đinh Thị Phong, Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng, Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Bùi Quang Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 121/2025/TLST- HNGĐ ngày 27/10/2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 04/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐHPT ngày 22/12/2025 giữa các đương sự:
- 1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, Sinh năm 2000.
Trú tại: Xóm BT, xã NL, huyện TL, tỉnh Hòa Bình. Nay là xã VS, tỉnh Phú Thọ. Hiện ở: Xóm K, xã VS, tỉnh Phú Thọ. - 2. Bị đơn: Anh Bùi Văn H sinh năm 1992.
Trú tại: Xóm BT, xã NL, huyện TL, tỉnh Hòa Bình. Nay là xã VS, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, được nộp tiền tạm ứng án phí ngày 27/10/2025, bản tự khai và quá trình tố tụng tiếp theo, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Chị và anh Bùi Văn H kết hôn tháng 9/2018 trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại UBND xã QC, huyện TL, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã VS, tỉnh Phú Thọ). Sau kết hôn, vợ chồng sống chung cùng ông bà Nội tại xóm BT, xã NL, huyện TL, tỉnh Hòa Bình. (Nay là xóm BT, xã VS, tỉnh Phú Thọ). Cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vì vợ chồng khác biệt về quan điểm sống. Chị H đã nhiều lần nhỏ to khuyên giải để anh H biết quan tâm chăm sóc cho gia đình, vợ con nhưng anh H không có chuyển biến gì. Vì thế vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã khiến cuộc sống chung hết sức nặng nề. Ở được khoảng 05 năm đến năm 2023, do mâu thuẫn giữa vợ chồng và mâu thuẫn với gia đình nhà chồng, chị H đã bỏ về nhà Ngoại và cắt khẩu, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mâu thuẫn nặng nề và sống ly thân từ đó đến nay. Dù thất vọng về chồng, nhưng chị H vẫn hy vọng cùng với thời gian anh H sẽ sửa đổi để cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc hơn nhưng cuộc sống vợ chồng không có gì cải thiện; Quá trình giải quyết: Chị cho rằng anh H đã nhận và biết có giấy báo của Tòa, biết về thời gian địa điểm làm việc nhưng cứ khất lần không chịu đến Tòa giải quyết mà cố tình trốn tránh và gây khó khăn cho chị; Dù về lý, chị và anh H là vợ chồng nhưng chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa. Bởi cả hai đã sống ly thân từ lâu và không còn quan tâm đến nhau nhưng bởi anh H không chịu hợp tác, cố tình trốn tránh để gây khó khăn cho chị.
Nhận thấy: Có cố kéo dài thì cũng không còn cơ hội để có một gia đình hạnh phúc; Tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin ly hôn anh Bùi Văn H để giải phóng cho nhau. Về con chung: Không có; Về tài sản chung - Công nợ chung: Không có. Về án phí: Nguyên đơn: chị H xin tự nguyện chịu toàn bộ.
2. Vì phía bị đơn anh Bùi Văn H đã nhận được các thông báo theo quy định của pháp luật; Toà thông qua điện thoại có gặp, thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ cho anh; anh cũng thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trong đó có cả phần lỗi của chị H; anh cũng đã khuyên giải để nhằm vun đắp tình cảm vợ chồng, không muốn gia đình tan vỡ nhưng chị H không thay đổi lại làm đơn xin ly hôn anh vì thế anh không muốn níu kéo nữa mà đồng ý Ly hôn để giải phóng cho nhau. Về con chung Không có. Về tài sản chung - công nợ chung: Không có;
Tuy nhiên, khi được yêu cầu đến Toà làm việc đúng ngày giờ thì anh H không đến. Vì anh H cố tình trốn tránh nên chị H đã có đơn đề nghị Tòa không cần tiến hành thủ tục cho giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nữa mà điều tra xác minh, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử giải quyết cho chị được ly hôn anh H theo đúng pháp luật.
Để giải quyết vụ án, Tòa đã tiến hành tống đạt giấy báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa, anh Bùi Văn H không có mặt, không có lý do. Vì thế phiên tòa lần thứ nhất đã phải hoãn. Tòa cũng đã ra quyết định hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử tiếp theo và quyết định này cũng được tống đạt cho anh H theo đúng quy định của pháp luật. Đến phiên tòa xét xử lần thứ hai, anh Bùi Văn H không có mặt không có lý do.
3. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đưa ra quan điểm: Quá trình giải quyết: Thẩm phán, hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục theo quy định. Về nội dung: Đối với quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị Bùi Thị H phù hợp với các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Việc kết hôn của chị và anh H là tự nguyện và hợp pháp; mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ lâu và đã ở mức độ trầm trọng nên Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Bùi Văn H. Về con chung: Không có. Về tài sản chung - công nợ: Không có nên không đề cập. Về trách nhiệm nộp án phí: Chị H xin tự nguyện chịu án phí sơ thẩm nên áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận sự tự nguyện chịu án phí của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: - Quan hệ pháp luật tòa án giải quyết là tranh chấp về ly hôn. Nguyên đơn là là chị Bùi Thị H và bị đơn anh Bùi Văn H cùng trú tại xóm BT, xã NL, huyện TL, tỉnh Hòa Bình (Nay là xóm BT, xã VS, tỉnh Phú Thọ); nên chị Bùi Thị H khởi kiện vụ án, Tòa xác định chị là nguyên đơn. Anh Bùi Văn H là người bị khởi kiện là bị đơn là đúng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ, theo quy định tại Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quá trình giải quyết anh Bùi Văn H đã có cố tình trốn tránh dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng tại phiên tòa lần thứ hai anh vẫn không có mặt để thực hiền quyền và nghĩa vụ tại Tòa. Như vậy: anh H đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bản thân nên việc xử vắng mặt anh H là phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai chị Bùi Thị H vì xin nghỉ nhiều trong quá trình giải quyết nên cũng có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự việc xử vắng mặt cả chị H và anh H là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H chung sống và kết hôn với nhau tháng 9/2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã QC, huyện TL, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã VS, tỉnh Phú Thọ). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì thường xuyên xảy ra xung đột, mâu thuẫn chủ yếu do tính tình không hợp, vợ chồng không chịu nhường nhịn nhau khiến cuộc sống gia đình bức bách, nặng nề. Cả hai đổ lỗi cho nhau không chịu thay đổi và cho rằng bên kia không hề quan tâm đến vợ (chồng) và gia đình mình. Vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Xét hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn H từ sau khi kết hôn được một thời gian vợ chồng đã thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng không thể hòa hợp; anh H và chị H không hợp tính cách; vợ chồng chung sống không hạnh phúc, không có con chung nhưng anh chị không có giải pháp gì để vợ (chồng) mình tin tưởng mà yên tâm chung sống để có một gia đình hạnh phúc; Hiện cả hai đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ tình trạng thực tế thì hôn nhân giữa vợ và chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn để xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Bùi Văn H là cần thiết, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
[3] Về con chung: Không có.
[4] Về tài sản chung – công nợ chung: Nguyên đơn xác định không có và không đề nghị Toà giải quyết. Đây là ý chí của đương sự nên Toà không đề cập.
[5] Về án phí: Chị Bùi Thị H xin tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm: Sự tự nguyện này phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án nên chấp nhận sự tự nguyện chịu án phí của nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Điều 81, 82, 83; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn H.
[2] - Về con chung: Không có..
[3] Về tài sản chung, công nợ chung: Không có
[4] - Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp tại Thi hành án Dân sự Phú Thọ theo biên lai số: 0004316 ngày 27/10/2025, nay không phải nộp thêm.
[5] - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày kết quả xét xử được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Bùi Đình Dũng |
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ về tranh chấp hngđ- ly hôn
- Số bản án: 39/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HNGĐ- Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình: chị Bùi Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn H
