TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 384/2025/DS-PT Ngày 29 tháng 12 năm 2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng, ông Đào Chí Keo.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 390/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2025; tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025, của Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 348/2025/QĐXX-PT ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Nhơn H, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị Bạch H1, sinh năm: 1966; nơi cư trú: C H, phường I, quận H, Tp . Hồ Chí Minh. (nay là phường C, thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng K, sinh năm:1981; hiện đang sinh sống: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, An Giang (nay là tổ B, ấp B, xã B, tỉnh An Giang) (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ông Trần Tuấn M, sinh năm: 1988; nơi cư trú: số F, khóm Đ, phường M, thành phố L, An Giang. (nay là số F, khóm Đ, phường M, An Giang), theo giấy ủy quyền ngày 04/11/2024 tại Văn phòng C số chứng thực 1106, quyển số 01/2024-SCT/CK,ĐC, (có đơn xin vắng mặt)
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân S, sinh năm: 1983; nơi cư trú: số E, T, B, phường B, tỉnh An Giang. (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện; bản tự khai ngày 31/7/2023 và trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Khoảng năm 2015, giữa vợ chồng ông H, bà H1 với bà K có thỏa thuận vay số tiền vốn 900.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 1%/tháng. Việc vay mượn chỉ thỏa thuận miệng vì có mối quan hệ bà con (bà K là cháu dâu). Nguyên đơn giao tiền mặt trực tiếp cho bà K; trả lãi được bà Kim thanh T bằng hình thức chuyển khoản, chia làm 02 đợt: đầu tháng trả số tiền lãi suất 5.000.000đ; giữa tháng trả số tiền lãi suất 4.000.000 đồng. Đến ngày 03/02/2021, bà K có chuyển khoản trả 500.000.000 đồng tiền vốn. Số tiền vốn còn lại 400.000.000 đồng bà K tiếp tục trả lãi 4.000.000đ/01 tháng đến tháng 10/2022 thì ngưng. Nguyên đơn nhiều lần yêu cầu bà K trả vốn và lãi nhưng bà K hứa hẹn, không thực hiện đúng cam kết. Đến ngày 17/5/2023, ông H, bà H1 có đến nhà cha mẹ ruột bà K để chốt nợ; nội dung trao đổi có ghi âm và lập vi bằng ngày 19/7/2023 làm căn cứ khởi kiện.
Nay, nguyên đơn yêu cầu bà K có trách nhiệm trả số tiền vốn còn thiếu 400.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật từ tháng 10/2022 cho đến ngày Tòa án xét xử.
Ông H, bà H1 không yêu cầu ông S (chồng bà K) có trách nhiệm liên đới. Với lý do sau: Khi bà K, ông S sang nhượng QSDĐ và quyền sở hữu nhà tọa lạc khóm B (tài sản chung của vợ chồng bà K) thì vợ chồng bà K đã đủ tiền trả hết nợ cho ông H, bà H1 900.000.000 đồng, nhưng bà K chỉ trả 500.000.000 đồng, đã tự ý giữ lại 400.000.000 đồng và xin trả lãi, sẽ từ từ trả sau. Do đó, ông H, bà H1 không yêu cầu ông S (chồng bà K) có trách nhiệm liên đới. Ông S không biết số nợ 400.000.000 đồng bà K giữ lại và tự thỏa thuận riêng với vợ chồng ông H, bà H1.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng K trình bày tại biên bản Tòa án lấy lời khai ngày 03/4/2024: Xác nhận năm 2015 có hỏi vay tiền của ông H, bà H1 số tiền vốn là 300.000.000 đồng, mục đích vay kinh doanh vật liệu xây dựng; nhưng bản chất thật là để cất nhà cho cha mẹ chồng (ba mẹ ruột anh S). Khi vay, không làm giấy tờ gì với nhau. Ông H, bà H1 chuyển khoản cho bà số tiền 200.000.000 đồng; số tiền 100.000.000 đồng tiền mặt giao cho anh S (chồng bà). Do đó, bà yêu cầu Tòa án đưa chồng bà là ông S vào tham gia tố tụng cùng liên đới trách nhiệm trả nợ.
Khi vay chỉ vay số tiền vốn 300.000.000 đồng không vay số tiền 900.000.000 đồng như nguyên đơn trình bày. Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp đoạn ghi âm và Vi bằng thể hiện không đầy đủ bản chất vụ án; có phần cắt xén nội dung. Bà sẽ cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án.
3
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 22/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang đã xử:
- Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 85 và khoản 2 Điều 86, Điều 144; Điều 147, Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Nhơn H, bà Nguyễn Thị Bạch H1 đối với bà Nguyễn Thị Hoàng K.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 25.280.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng). Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 số tiền tạm ứng án phí là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004361 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang (Nay là phòng THADS khu vực 10- An Giang).
Buộc bà Nguyễn Thị Hoàng K có trách nhiệm trả cho ông bà Võ Nhơn H, Nguyễn Thị Bạch H1 tổng số tiền vốn, lãi suất tạm tính đến ngày 15/7/2025 là 532.000.000 đồng (Năm trăm ba mươi hai triệu đồng). Trong đó tiền vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi suất là 132.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án khi án có hiệu lực.
Ngày 24/7/2025, bị đơn Nguyễn Thị Hoàng K kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bị đơn Nguyễn Thị Hoàng K kháng cáo có ủy quyền cho ông Nguyễn Tuấn M1 đại diện có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
[1] Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị Hoàng K nộp đơn kháng cáo hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Hoàng K thì thấy: Giữa các đương sự có xác lập hợp đồng vay tài sản. Việc vay không viết biên nhận nợ, nhưng thỏa thuận miệng lãi suất 1%/tháng và được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản hằng tháng. Các bên đều thừa nhận có giao dịch vay mượn xảy ra trên thực tế;
Tuy nhiên, bị đơn bà Hoàng K cho rằng chỉ mượn ông H, bà H1 có 500.000.000 đồng, có chuyển khoản cho bà K 200.000.000 đồng, cho ông Xuân S (chồng bà K) số tiền 300.000.000 đồng và bà Kim N ra rằng đã chuyển trả cho vợ chồng ông H, bà H1 đủ 500.000.000 đồng, không còn nợ nữa; còn phía nguyên đơn cho rằng cho bị đơn mượn 900.000.000 đồng, hằng tháng có đóng lãi làm 2 đợt; đợt 1 chuyển khoản trả lãi 5.000.000 đồng và đợt 2 trả lãi 4.000.000 đồng; nhưng sau khi vợ chồng Xuân S, Hoàng K bán nhà, đất đã thanh toán cho ông H, bà H1 vốn 500.000.000 đồng và bà K nói mượn riêng lại cho cá nhân bà K 400.000.000 đồng, đóng lãi hằng tháng 4.000.000 đồng.
Chứng cứ chứng minh có hay không có việc bà K còn mượn nợ ông H, bà H1 số tiền 400.000.000 đồng, đây là nợ cá nhân của bà K hay nợ chung của vợ chồng bà K, ông Xuân S, thì thấy như sau:
[2.1] Tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 03/4/2024, bà K khai: “...xác nhận có vay ông H, bà H1 tổng số tiền vốn 300.000.000đ vào năm 2015, giữa các bên không làm giấy tờ gì với nhau, lãi suất 1%/tháng, hàng tháng bà chuyển khoản trả lãi suất số tiền là 3.000.00đ/01 tháng. Đây là khoản nợ chung của vợ chồng vay trong thời kì hôn nhân với ông Nguyễn Xuân S. Bà H1 có chuyển khoản cho bà số tiền vốn 200.000.000đ và đưa tiền mặt cho ông S số tiền 100.000.000đ. Yêu cầu Tòa án đưa ông S vào tham gia tố tụng cùng có trách nhiệm liên đới. Bà cung cấp nơi cư trú và nơi làm việc của ông S cho Tòa án. Đồng thời, bà sẽ cung cấp sao kê Ngân hàng về chuyển khoản trả hết nợ cho bà H1, ông H. Bà đã chuyển khoản thừa số tiền vốn đã nợ ông H, bà H1; trường hợp chuyển khoản trả nhiều hơn thì phía ông H, bà H1 còn nợ bà K và ông S....”;
Bà K chưa chứng minh sao kê từ Ngân hàng thể hiện việc bà chuyển khoản trả dư số tiền vốn cho ông H, bà H1.
[2.2] Tại biên bản đối chất ngày 08/5/2025 của Tòa án bà K trình bày, chỉ thay ông S chuyển khoản trả tiền lãi suất cho bà H1. Trả nợ thay cho chồng (ông S) vì vợ chồng còn chung sống với nhau. Số tiền 4.000.000 đồng bà chuyển khoản cho bà H1 nguồn tiền này của ông S nhờ bà K chuyển khoản để trả lãi suất cho ông H, bà H1 (ông S chuyển khoản cho bà K; bà K chuyển khoản cho ông H, bà H1).
Ngược lại nguyên đơn cung cấp file ghi âm và Vi bằng cuộc nói chuyện giữa các bên: “có giọng nói bà K thỏa thuận với ông H, bà H1 cho giảm tiền lãi suất từ
5
số tiền 4.000.000đ hàng tháng xin giảm còn 3.000.000đ...” ông H nhắn tin yêu cầu bà K trả tiền qua số điện thoại 0902 844494 (tại biên bản đối chất bà K xác nhận đúng số điện thoại bà K đang sử dụng). Tại biên bản đối chất giữa các bên, bà K xác định nợ bà H1, ông H số tiền vốn là 500.000.000đ (trong đó, bà K hỏi vay là 200.000.000đ, ông Xuân S hỏi vay 300.000.000đ; lãi suất thỏa thuận 1%/tháng); đến năm 2021 bà K đã trả xong số tiền vốn 500.000.000đ cho ông H, bà H1; không còn nợ.
Tuy nhiên, việc bị đơn vẫn chuyển khoản trả tiền lãi đến tháng 9/2022 mới ngưng, đây là tình tiết không phù hợp với trình bày của bị đơn cho rằng đã trả xong tiền vốn năm 2021. Bà K trình bày cho sự mâu thuẫn trên là do số tiền vốn 400.000.000đ còn lại là khoản tiền nợ riêng của ông S, ông S vẫn thực hiện việc chuyển khoản trả lãi nợ riêng của ông S cho ông H, bà H1.
Lời trình bày này lại mâu thuẫn với tài liệu sao kê chuyển khoản là do bà K chuyển khoản tiền lãi suất 4.000.000đ cho bà H1. Tiếp tục trình bày cho sự mâu thuẫn này với căn cứ là từ tài khoản ông S chuyển qua tài khoản bà K, nhờ bà K chuyển khoản trả lãi cho nguyên đơn. Lại có tháng ông S không có khả năng chuyển khoản trả lãi suất; bà K tự nguyện chuyển khoản thay ông S trả lãi suất cho phía nguyên đơn. Hằng tháng bà K thực hiện việc chuyển khoản số tiền 4.000.000₫ cho rằng không biết tiền gì.
[2.3] Xét thấy, lời trình bày của bà K (bị đơn) trong quá trình giải quyết vụ án luôn mâu thuẫn không thống nhất giữa các thời điểm, nội dung trước sau không đồng nhất, lời khai không đảm bảo tính khách quan, không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án. Mặt khác, các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp Tòa án đều gửi cho bà K tiếp nhận và không có văn bản hay chứng cứ khác để phản bác. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không đủ cơ sở xem xét đối với lời trình bày của bị đơn; cấp sơ chấp buộc một mình bà K tiếp tục trả số tiền còn thiếu 400.000.000 đồng là chưa đủ cơ sở, mà xem đây là nợ chung của vợ chồng; cần buộc trách nhiệm cả hai vợ chồng ông S, bà K cùng trả nợ mới đúng pháp luật.
[3] Tuy nhiên, xét buộc trách nhiệm liên đới của ông Nguyễn Xuân S thì thấy; tại đơn khởi kiện của nguyên đơn chỉ yêu cầu bà K trả nợ và ngay tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn xác định không yêu cầu ông S cùng có trách nhiệm liên đới, không khởi kiện bổ sung đối với ông S. Hội đồng xét xử có giải thích về trách nhiệm liên đới theo quy định pháp luật.
Trong thời gian Tòa án nhân dân huyện Châu Thành (nay Tòa án nhân dân khu vực 10- An Giang) đang thụ lý giải quyết vụ án, thì bà K thực hiện thủ tục khởi kiện giải quyết ly hôn với ông Xuân S tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay Tòa án nhân dân khu vực 9-An Giang) và tại Quyết định số 224/2024 ngày 06/12/2024 công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án; không yêu cầu Tòa án nhân dân Tp.L giải quyết nợ chung.
6
Do đó, căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn; Hội đồng xét xử phúc thẩm, cần thiết buộc bà K trả nợ cho nguyên đơn; sau này bà K có quyền khởi kiện ông S bằng vụ án khác về nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực pháp luật.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu tiền án phí theo quy định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 điều 148; điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hoàng K;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Nhơn H, bà Nguyễn Thị Bạch H1 đối với bà Nguyễn Thị Hoàng K.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 25.280.000đ (hai mươi lăm triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng). Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 số tiền tạm ứng án phí là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0004361 ngày 11/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang (Nay là phòng THADS khu vực 10- An Giang)
Buộc bà Nguyễn Thị Hoàng K có trách nhiệm trả cho ông bà Võ Nhơn H, Nguyễn Thị Bạch H1 tổng số tiền vốn và lãi suất tạm tính đến ngày 15/7/2025 là 532.000.000 đồng (năm trăm ba mươi hai triệu đồng). Trong đó tiền vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi suất là 132.000.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000595 ngày 08/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 08/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7
Nơi nhận:
Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 384/2025/DS-PT ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 384/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H và ông H kiện bà K đòi tiền cho vay.
