Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/DS-PT

Ngày: 15/01/2026

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải

Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 494/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án Dân sự sơ thẩm số 52/2025/DSST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 831/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1970; Trú tại: ấp M, phường Đ, thành phố Cần Thơ; có mặt.
  • - Bị đơn:
    1. Bà Lê Vũ Lan H, sinh năm: 1987; Trú tại: D L, khu V, phường N, thành phố Cần Thơ; có mặt.
    2. Ông Trần Thanh P, sinh năm: 1981; Trú tại: ấp E, phường L, thành phố Cần Thơ; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị H1, sinh năm: 1961; Trú tại: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ; có mặt.
  • Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Vũ Lan H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D trình bày: Vào ngày 25/10/2022 bà Lê Vũ Lan H và ông Trần Thanh P có vay của bà số tiền là 360.000.000 đồng, thời hạn vay khi nào có nhu cầu lấy tiền thì thông báo trước, lãi suất theo thỏa thuận 2,5%/ tháng nhưng không ghi cụ thể trong hợp đồng. Khi vay có làm biên nhận do bà Lê Vũ Lan H viết và ký tên. Từ khi vay đến nay bà H và ông P đóng lãi được 9.000.000 đồng và chưa trả vốn được khoản nào.

Nay bà khởi kiện yêu cầu bà Lê Vũ Lan H và ông Trần Thanh P có trách nhiệm trả cho bà tổng số tiền vay 360.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất. Tại phiên tòa sơ thẩm bà D rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu buộc ông Trần Thanh P trả nợ. Yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Lê Vũ Lan H có trách nhiệm trả cho bà tổng số tiền vay vốn 360.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn bà Lê Vũ Lan H trình bày: Bà thừa nhận có vay tiền của bà Nguyễn Ngọc D nhiều lần và sau đó tổng kết lại với số tiền 360.000.000 đồng tiền vốn và 40.000.000 đồng tiền lãi, cả hai thống nhất làm biên nhận ngày 25/10/2022 với số tiền 360.000.000 đồng và đã trả xong vào tháng 5/2023, khi trả không nhận lại biên nhận gốc. Số tiền trên bà trả 02 lần và mỗi lần trả 200.000.000 đồng trả tại nhà bà D. Khi trả có lập biên nhận, Toà án có yêu cầu cung cấp nhưng thất lạc không cung cấp được. Biên nhận do bà H tự viết, bà D ký tên và mẹ ruột Vũ Thị H1 chứng kiến. Việc vay tiền giữa bà và bà D chồng bà là ông Trần Thanh P không biết và không ký tên. Nay bà không đồng ý trả nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị H1 trình bày: Bà là mẹ ruột của bà Lê Vũ Lan H. Tháng 5/2023 bà có trả nợ dùm con gái Lê Vũ Lan H số tiền 360.000.000 đồng cho bà Nguyễn Ngọc D, bà đi cùng với con gái H, trả tại nhà bà D không ai biết và chứng kiến. Với số tiền vốn 360.000.000 đồng và lãi 40.000.000 đồng; Số tiền 400.000.000 đồng bà trả 02 lần, mỗi lần 200.000.000 đồng, cụ thể: Lần 1 vào ngày 18/4/2023 và lần 2 ngày 28/4/2023 khi trả có lập biên nhận bà D xác nhận ký tên đã nhận tiền và bà là người giữ nhưng do đi khám bệnh bỏ vào sổ khám bệnh nên bỏ mất 02 biên nhận đã trả nợ. Đối với biên nhận gốc 360.000.000 đồng bà D khởi kiện, khi trả nợ xong bà có yêu cầu bà D đưa lại nhưng nói sẽ đưa sau cho bà H nhưng sau đó bà D không đưa. Đối với các khoản vay giữa Lê Vũ Lan H và bà D bà không biết, việc làm ăn của con gái H và bà D vay bao nhiêu lần bà cũng không biết. Nhưng đối với số tiền 360.000.000 đồng bà H nói với bà vay nhiều lần và sau đó cộng vốn và lãi lại.

Nay bà D khởi kiện buộc Lê Vũ Lan H trả 360.000.000đ bà không đồng ý, bà không yêu cầu độc lập.

Do không hòa giải và thương lượng được nên vụ kiện được đưa ra xét xử. Tại bản án số 52/2025/DSST ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D. Buộc bị đơn bà Lê Vũ Lan H có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Ngọc D tổng số tiền vay còn nợ là 360.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Đình yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D buộc ông Trần Thanh P trả nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Lê Vũ Lan H phải chịu 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) nộp tại Thi thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D được nhận lại 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền tạm ứng theo biên lai thu số 0005904, ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 - Cần Thơ) hoặc tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ đã tuyên xử. Bị đơn bà Lê Vũ Lan H đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cho rằng: Nguyên đơn chưa nhận được khoản trả nào của bị đơn. Bà Vũ Thị H1 chưa trả khoản tiền cho bà. Hiện tại biên nhận bản chính bà đã nộp cho Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

Bà Lê Vũ Lan H trình bày: Mẹ của bà là bà Vũ Thị H1 đã trả hai lần nợ là 400.000.000 đồng cho bà D. Bà D có ghi hai biên nhận nợ mỗi lần 200.000.000 đồng nhưng mẹ của bà đi khám bệnh và để lạc mất hai tờ biên nhận trên. Tuy nhiên, thông qua các tin nhắn trên zalo thì bà D thừa nhận có nhận tiền trả của bà. Bà đề nghị sửa bản án theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bà Vũ Thị H1 trình bày: Thực sự bà có trả tiền cho bà D nhưng do lạc mất hai tờ biên nhận.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện và cung cấp chứng cứ là tờ biên nhận 360.000.000 đồng. Bị đơn thừa nhận chữ ký tên trong tờ biên nhận là của bị đơn. Bị đơn không chứng minh được việc đã trả tiền cho nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

    Xét kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

  2. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D cho rằng: Vào ngày 25/10/2022 bà H1 có vay của bà số tiền là 360.000.000 đồng, lãi theo thỏa thuận 2,5%/tháng, có biên nhận vay. Trả lãi được 9.000.000 đồng thì ngưng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền vay vốn 360.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Bị đơn bà H1 thừa nhận có vay tiền của bà Nguyễn Ngọc D nhiều lần và sau đó chốt lại với số tiền 360.000.000 đồng tiền vốn và 40.000.000 đồng tiền lãi, cả hai thống nhất làm biên nhận ngày 25/10/2022 với số tiền 360.000.000 đồng và đã trả xong vào tháng 5/2023, khi trả không nhận lại biên nhận gốc. Số tiền trên bà trả 02 lần và mỗi lần trả 200.000.000 đồng trả tại nhà bà D. Vì vậy, bà không đồng ý trả nợ. Bà H1 (mẹ bà Lan H) cho rằng: Bà là mẹ ruột của bà Lê Vũ Lan H. Tháng 5/2023 bà có trả nợ dùm con gái Lê Vũ Lan H số tiền 360.000.000 đồng D, bà đi cùng với con gái, trả tại nhà bà D không ai biết và chứng kiến. Tiền vốn 360.000.000 đồng và lãi 40.000.000 đồng; Số tiền 400.000.000 đồng bà trả 02 lần, mỗi lần 200.000.000 đồng, cụ thể: Lần 1 vào ngày 18/4/2023 và lần 2 ngày 28/4/2023 khi trả có lập biên nhận bà D xác nhận ký tên đã nhận tiền và bà là người giữ nhưng do đi khám bệnh bỏ vào sổ khám bệnh nên bỏ mất 02 biên nhận đã trả nợ. Đối với biên nhận gốc 360.000.000 đồng bà D khởi kiện, khi trả nợ xong bà có yêu cầu bà D đưa lại nhưng nói sẽ đưa lại cho con gái là Lê Vũ Lan H, nhưng sau đó thì không đưa. Nay bà D khởi kiện buộc Lê Vũ Lan H trả 360.000.000đ bà không đồng ý, bà không yêu cầu độc lập.

    Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà D và bà Lan H có xác lập hợp đồng vay tài sản là có thật. Phù hợp với tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc trả nợ là có căn cứ.

    Xét lời trình bày của bà Vũ Thị H1 cho rằng có trả nợ cho con gái nhưng biên nhận bà D xác nhận thì đã lạc mất. Điều này có sự mâu thuẫn trong lời khai vì khi vay tiền bà Lan H ghi biên nhận và khi trả tiền chỉ cần thu hồi lại biên nhận hoặc nếu trả không hết số tiền trong biên nhận thì ghi phần tiền còn lại vào mặt sau tờ biên nhận... Do đó, lời trình bày của bà Vũ Thị H1 là không phù hợp với sự thật logic. Hơn nữa, bà Vũ Thị H1 cho rằng bà D có ghi lại hai biên nhận mỗi biên nhận là 200.000.000 đồng cho bà nhưng bà để thất lại, điều này cũng không phù hợp với sự thật khi trả nợ. Nếu trả đủ 400.000.000 đồng thì chỉ cần thu hồi lại biên nhận là xong. Phía bị đơn và bà Vũ Thị H1 không chứng minh được việc trả xong nợ nên yêu cầu cấn trừ là không phù hợp. Do đó, bà Nguyễn Ngọc D khởi kiện yêu cầu bà Lê Vũ Lan H trả tổng số tiền vay còn nợ 360.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D. Buộc bà Lê Vũ Lan H trả cho bà Nguyễn Ngọc D tổng số tiền vay 360.000.000 đồng.

  3. [3] Xét kháng cáo của bị đơn: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trả xong. Các tin nhắn qua zalo chưa chứng minh cụ thể nguyên đơn nhận số tiền chuyển trả nên yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
  4. [4]. Đình yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Thanh P trả nợ.
  5. [5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Vũ Lan H phải chịu án phí 18.000.000 đồng.
  6. [6]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 92; Điều 227; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
  • Điều 26 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Vũ Lan H.
  2. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D. Buộc bị đơn bà Lê Vũ Lan H có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Ngọc D tổng số tiền vay còn nợ là 360.000.000 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu đồng).
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  5. Đình yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D buộc ông Trần Thanh P trả nợ.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Lê Vũ Lan H phải chịu 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) nộp tại Thi thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
  7. Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D được nhận lại 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền tạm ứng theo biên lai thu số 0005904 ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 - Cần Thơ) hoặc tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Vũ Lan H phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003802 ngày 29/9/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành tiền án phí. Bà H đã nộp xong.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Trang Thư - Võ Bích Hải

Nguyễn Văn Hải

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND khu vực 13-Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 13-Cần Thơ;
  • - THADS thành phố Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 38/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Ngọc D đòi bà Lê Vũ Lan H trả nợ 360 triệu đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger