Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH


Bản án số: 38/2026/DSPT
Ngày: 21/01/2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hằng

Ông Nguyễn Gia Lương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình- Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 493/2026/TLPT-DS ngày 22/12/2026 về “Tranh chấp Quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2026/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 48/QĐ-PT ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Giáp Văn L, sinh năm 1967 – Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, tổ dân phố T, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1988 – Có mặt.
Địa chỉ: số nhà B, tổ dân phố T phường B, tỉnh Bắc Ninh

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968 – Có mặt.
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, tổ dân phố T, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ra trong vụ án còn một số người tham gia tố tụng khác, không liên quan đến kháng cáo Tòa án không triệu tập.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Giáp Văn L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn ông Giáp Văn L trình bày: Thửa đất số 128, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thôn T, xã D, thành phố B trước đây là đất do cha ông để lại cho bố mẹ ông. Sau khi bố mẹ ông chết thì để lại cho ông quản lý và sử dụng. Năm 1998, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó được Nhà nước thu hồi và cấp đổi vào năm 2015 cho hộ ông. Thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2015 thì hộ ông gồm 05 thành viên là: ông Giáp Văn L; bà Nguyễn Thị H; chị Giáp Thị T1; chị Giáp Thị N và anh Giáp Văn P.

Tháng 4/2024, anh Lê Văn T là hàng xóm sát cạnh nhà ông có xây dựng công trình trên đất là tường bao và lợp mái tôn đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông, cụ thể: Diện tích lấn chiếm phía T có diện tích khoảng 2,2 m2; diện tích lấn chiếm phía T có diện tích hơn 1m2, tổng diện tích khoảng 3,7 m2, có trị giá 20 triệu đồng.

Nay ông yêu cầu anh T phải trả lại cho gia đình ông phần diện tích đã lấn chiếm là 3,7m2 và tháo dỡ công trình xây dựng, lợp mái tôn lấn chiếm sang đất của gia đình ông.

Bị đơn anh Lê Văn T trình bày:
Thửa đất số 127, tờ bản đồ số 23, diện tích 613,4m2 tại địa chỉ tổ dân phố T, phường D, thành phố B là đất do bố mẹ anh chết để lại. Đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lê Văn T2 (là bố đẻ của anh) năm 2002. Đất được để lại cho anh và anh Lê Văn T3 (là em trai ruột của anh), tuy nhiên chưa làm thủ tục tách đất. Hiện tại gia đình anh và anh T3 vẫn đang cùng sinh sống ổn định tại thửa đất trên.

Tháng 3/2024, anh tiến hành xây dựng 01 gian nhà kho xây gạch, lợp mái tôn giáp thửa đất số 128 của gia đình ông L. Trước đó khoảng 10 năm, gia đình ông L đã xây dựng công trình là dãy nhà tạm cấp 4 giáp phần đất anh xây dựng nhà kho.

Nay ông L khởi kiện yêu cầu anh trả lại diện tích đất lấn chiếm 3,7m2 của nhà ông L và tháo dỡ tài sản trên phần đất lấn chiếm thì anh không đồng ý. Anh khẳng định không lấn chiếm đất nhà ông L, hiện trạng đất hai bên sử dụng từ trước đến nay vẫn thế, không thay đổi gì.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là vợ ông Giáp Văn L. Thửa đất số 128, tờ bản đồ số 23, đại chỉ tại thôn T, xã D, thành phố B trước đây là đất cha ông để lại cho bố mẹ chồng bà, sau đó thì bố mẹ chồng bà để lại cho ông Giáp Văn L. Năm 1984, bà kết hôn cùng ông L và về ở trên thửa đất này từ đó cho đến nay. Khoảng năm 1998, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Sau đó nhà nước thu hồi lại Giấy chứng nhận và cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 848235, số vào sổ cấp GCN: CH02364/QĐ số 3197/QĐ-UBND ngày 08/9/2021 mang tên hộ ông Giáp Văn L. Thời điểm cấp lại giấy chứng nhận năm 2015 thì gia đình bà gồm có các thành viên là ông Giáp Văn L; bà Nguyễn Thị H; chị Giáp Thị T1; chị Giáp Thị N và anh Giáp Văn P. Tháng 4 năm 2024, anh Lê Văn T là hàng xóm sát cạnh nhà bà có xây dựng công trình trên đất và xây lấn chiếm sang đất gia đình nhà bà. Nay bà yêu cầu anh T trả lại gia đình bà diện tích tích đất lấn chiếm như ông L đã trình bày.

Các đương sự đều đồng ý với kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản

  • Đất theo giá chuyển nhượng tại thời điểm định giá là 7.500.000 đồng/m2.

Toàn bộ hiện trạng các bức tường được gia đình 02 bên xây dựng kiên cố, nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ kết cấu công trình.

Với nội dung trên, tại Bản án sơ thẩm số: 84/2026/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh đã xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Giáp Văn L:
Buộc anh Lê Văn T phải trả cho ông Giáp Văn L phần diện tích lấn chiếm là 3.6m2 trị giá bằng tiền là 27.000.000 đồng.
Giao cho anh Lê Văn T được quản lý, sử dụng đối với phần diện tích 3.6m2 (có sơ đồ kèm theo).
Ông Giáp Văn L, anh Lê Văn T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chỉnh lý đối với quyền sử dụng đất nêu trên.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/10/2025, ông Giáp Văn L kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa lại Bản án sơ thẩm buộc bị đơn anh T phải tháo dỡ và trả lại cho ông diện tích đất lấn chiếm là 3,6m² và khôi phục nguyên hiện trạng ban đầu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Giáp Văn L; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét kháng cáo của ông Giáp Văn L đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa lại Bản án sơ thẩm buộc bị đơn anh T phải tháo dỡ và trả lại cho ông diện tích đất lấn chiếm là 3,6m² và khôi phục nguyên hiện trạng ban đầu, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ kết quả đo đạc, chồng ghép bản đồ nhận thấy phần diện tích đất có tranh chấp nằm trên phần diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận cho hộ ông Giáp Văn L. Tại phiên tòa các bên đều thừa nhận kết quả đo đạc của Tòa án cấp sơ thẩm về các vị trí lấn chiếm. Toàn bộ phần diện tích tích đất lấn chiếm hiện nay gia đình anh T đang quản lý, sử dụng. Do vậy, ông L khởi kiện yêu cầu anh T phải trả lại diện tích lấn chiếm 3,6m2 là có cơ sở để chấp nhận.

Tuy nhiên ông L yêu cầu anh T phải tháo dỡ bức tường, mái tôn phần diện tích đất anh T lấn chiếm của gia đình nhà ông. Hội đồng xét xử xét thấy:

Do phần diện tích đất mà anh T đã lấn chiếm của gia đình ông L có diện tích nhỏ, lấn chiếm ở các vị trí khác nhau; công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm có kết cấu liền mạch với các công trình xây dựng kiên cố khác, nếu tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu chung của các công trình. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông L về việc buộc anh T phải tháo dỡ công trình lợp mái tôn lấn chiếm sang đất của gia đình ông L là không phù hợp và ảnh hưởng tới các công trình khác. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh T tiếp tục sử dụng phần diện tích và các công trình xây dựng và buộc anh T phải trả cho gia đình ông L phần diện tích đất đã lấn chiếm bằng tiền là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho các bên.

Căn cứ biên bản định giá tài sản xác định giá đất ở theo giá thị trường là 7.500.000 đồng/01 m2. Vì vậy, cần buộc anh T trả cho ông L giá trị phần diện tích đất lấn chiếm là: 3,6m2 x 7.500.000 đồng/m2 = 27.000.000 đồng là phù hợp. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, phía người kháng cáo là ông Giáp Văn L không cung cấp thêm được tài liệu, tình tiết gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L yêu cầu anh T phải trả bằng đất như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

[2]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, do kháng cáo của ông Giáp Văn L không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

[3]. Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Giáp Văn L; giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 84/2026/DS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
  2. Về án phí phúc thẩm: Ông Giáp Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông L đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004032 ngày 27/11/2025 của Chi thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hằng – Nguyễn Gia LươngHoàng Thị Hải Hường
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- TAND khu vực 1 – Bắc Ninh;
- Phòng THADS khu vực 1 – Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa





Hoàng Thị Hải Hường
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2026/DSPT ngày 21/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 38/2026/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger