Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – LÀO CAI

---

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày: 24-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tý; Ông Hà Sông Thao.

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Lò Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Vàng A T, sinh ngày 01-01-1973 tại xã T, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc Mông; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Vàng A S (đã chết) và bà Mùa Thị N (đã chết); có vợ là Giàng Thị N1 và 09 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định số 528/QĐ ngày 10-11-2007 của UBND huyện T, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc; Bản án số 16/2015/HSST ngày 31-12-2015 của Tóa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 11/2020/HS-ST ngày 25-6-2020 của Tóa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 21-8-2025; bị tạm giam từ ngày 27-8-2025. “Có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; "Có mặt".

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Hờ A S1; nơi cư trú tổ A, phường N, tỉnh Lào Cai; "Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 20-8-2025, tại Bản M, phường C, tỉnh Lào Cai. Vàng A T gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết; qua trao đổi T đưa cho người đàn ông này 800.000 đồng, nhờ mua hộ 600.000 đồng Heroine, số tiền còn lại 200.000 đồng là tiền trả công. Người đàn ông cầm tiền rồi rời đi, T không biết đi đâu; khoảng 15 phút sau, người này quay lại và đưa cho T 01 gói Heroine, được gói bằng nilon màu xanh. Nhận Heroine T1 mang về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T1 lấy một ít Heroine ra để sử dụng. Đến 22 giờ cùng ngày, T1 chia số Heroine thành 05 gói nhỏ, mỗi gói được gói lại bằng giấy màu trắng, sau đó cất giấu ở đầu giường trong phòng ngủ của T1.

Đến 06 giờ ngày 21-8-2025, T1 tiếp tục lấy một ít Heroine từ một trong 05 gói để sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã T, tỉnh Lào Cai tiến hành kiểm tra tình trạng nghiện đối với T1. Trong quá trình xét nghiệm ma túy, T1 tự giao nộp 05 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng được cất giấu trong buồng ngủ. Thào khai nhận 05 gói chất bột màu trắng là H1, mua về để bản thân sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 259/KL-KTHS ngày 27-8-2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

- Chất bột nén màu trắng thu của Vàng A T gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là: 1,27 gam (một phẩy hai mươi bảy gam).

Bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-KV5 ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai đã truy tố bị cáo Vàng A T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ ma túy mà bị cáo đã thực hiện; bị cáo đề nghị được miễn án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vàng A T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 1,17 gam Heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định; 01 (một) vỏ phong bì thư đã mở niêm phong và các mảnh giấy gói.

Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

- Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo mới học lớp xóa mù chữ, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ ít, mục đích là để sử dụng cho bản thân, không phát tán ra ngoài xã hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A T từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung gì, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; do bị cáo là người nghiện nên bị cáo đã mua Heroine về để sử dụng; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người bào chữa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21-8-2025, tại nơi ở của mình thuộc thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai; Vàng A T đã có hành vi cất giữ trái phép 1,27 gam Heroine, được gói bằng các mảnh giấy màu trắng cất giấu ở đầu giường ngủ của T. Mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Vàng A T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép ma túy (Heroine) là vi phạm pháp luật hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội nhưng

vẫn cố ý thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy trái pháp luật của bản thân. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng; ảnh hưởng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại trật tự an toàn xã hội.

[3] Từ những căn cứ trên đã có đủ căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo Vàng A T thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Nhân thân: Bị cáo Vàng A T đã bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc và chấp hành 02 bản án vào năm 2015 và 2020, nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu tại địa phương.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tội phạm mà bị cáo Vàng A T thực hiện là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là lớn; cùng với nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn; cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian cai nghiện và giáo dục riêng bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[7] Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Vật chứng và tài sản bị tạm giữ:

- Đối với 1,27 gam Heroine Cơ quan giám định đã trích 0,1 gam để giám định, số còn lại là 1,17 gam, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh giấy gói. Vỏ phong bì Cơ quan điều tra sử dụng để niêm phong vật chứng, xét không có giá trị, nên cần tiêu huỷ, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các mảnh giấy gói là vật bị cáo sử dụng để tàng trữ ma tuý, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Án phí và các vấn đề khác:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo đề nghị được miễn án phí. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông dân tộc Thái bị cáo khai là người đã bán Heroine cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác minh được, nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Vàng A T 03 (ba) năm 06 (tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 21-8-2025.

  3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tiêu hủy: 1,17 (một phẩy mười bảy) gam Heroine, đã được niêm phong; 01 (một) vỏ phong bì thư đã mở niêm phong và các mảnh giấy gói.

    (đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19-12-2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Lào Cai)

  4. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A T.
  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Vàng A T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND khu vực 5 - Lào Cai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Lào Cai
  • - UBND xã Trạm Tấu, tỉnh Lào Cai (TB);
  • - Lưu hs, TA, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21-8-2025, tại nơi ở của mình thuộc thôn Pá Hu, xã Trạm Tấu, tỉnh Lào Cai; Vàng A T đã có hành vi cất giữ trái phép 1,27 gam Heroine, đựơc gói bằng các mảnh giấy màu trắng cất giấu ở đầu giường ngủ của T. Mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Trạm Tấu, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger