|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 29/12/2025.
V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Quang Thanh
Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Ông Ngô Rạng Đông
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Hiền Phương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang: Không tham gia.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 119/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11/11/2025 về việc: “Xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/12/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Căn cước công dân số 091195007426 cấp ngày 14/3/2022
- Địa chỉ: Tổ E, khu phố B, đặc khu T, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Căn cước công dân số 042096004463 cấp ngày 17/01/2024
- Địa chỉ: Tổ E, khu phố B, đặc khu T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Lê Thị Tuyết M trình bày:
Về hôn nhân: Năm 2022, chị M và anh Nguyễn Ngọc Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P vào năm 2023. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng vui vẻ, hoà thuận, yêu thương và hạnh phúc. Thời gian gần đây, vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, nhiều lần hàn gắn nhưng không được nên không còn chung sống. Do chị M không còn tình cảm với anh Đ, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Chị M yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh Đ và chị M có một người con chung tên Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 16/9/2023. Chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị M cam kết không nợ ai cũng không ai nợ hay vợ chồng. Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị M đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải đoàn tụ và xin xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Ngọc Đ trình bày:
Anh Đ và chị Nguyễn Ngọc M1 tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, chung sống với nhau như vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P vào năm 2023. Quá trình chung sống, vợ chồng vui vẻ hạnh phúc và có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 16/9/2023. Sau đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên không còn chung sống. Do đó, anh Đ thống nhất ly hôn với chị M1
Về con chung: Anh Đ thống nhất giao cháu Ngọc B cho chị M1 chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đ cam kết quá trình chung sống không nợ ai cũng không ai nợ anh chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đ đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải đoàn tụ và xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Lê Thị Tuyết M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Ngọc Đ có địa chỉ tại tổ E, khu phố B, đặc khu T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 ngày 01/7/2025 của Quốc hội và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
Anh Nguyễn Ngọc Đ và chị Lê Thị Tuyết M có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ, chị M.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc Đ và chị Lê Thị Tuyết M yêu thương chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nay là Ủy ban nhân dân Đ, tỉnh An Giang). Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ và chị M thừa nhận vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, không còn chung sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh Đ và chị M đều yêu cầu Toà án không tiến hành hoà giải đoàn tụ vì có chung sống cũng không còn hạnh phúc nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ.
[2.2] Về con chung: Anh Nguyễn Ngọc Đ và chị Lê Thị Tuyết M thừa nhận quá trình chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 16/09/2023. Anh Đ và chị M thống nhất giao cháu B cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Đ có quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, anh Đ và chị M có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[2.4] Về nợ chung: Anh Đ và chị M xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị Tuyết M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Ngọc Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng pháp luật:
- - Căn cứ vào Điều 35 Luật số 85/2025/QH15 ngày 01/7/2025 của Quốc hội và Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ.
- - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 16/09/2023 cho chị Lê Thị Tuyết M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Đ không cấp dưỡng nuôi con.
- Anh Đ có quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích chung của các con, anh Đ và chị M có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- - Về nợ chung: Anh Đ và chị M xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
3/ Về án phí:
Chị Lê Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006777 ngày 30/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang, nay được khấu trừ tiền án phí, chị M đã nộp xong án phí. Anh Nguyễn Ngọc Đ không phải chịu án phí.
Án xử công khai, báo cho anh Đ và chị M biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Quang Thanh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST. ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Tuyết M Xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ và yêu cầu được nuôi con chung
