Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23 tháng 12 năm 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bá Tuyên.
  2. Bà Võ Thị Thanh Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Linh Ngân, là Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 123/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Mỹ L; địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng – vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Hồ Lê H; địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 10 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Mỹ L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Mỹ L và ông Hồ Lê H kết hôn ngày 19/4/2004 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ) nay là UBND xã Đ, tỉnh Lâm Đồng và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, do bất đồng quan điểm trong cách làm ăn, kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, ông H ham chơi, bỏ bê gia đình, rồi nghiện ma túy, phá tán tài sản. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến mức bà và ông H phải sống ly thân. Nay bà nhận thấy tình cảm, tình yêu thương vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông Hồ Lê H có 02 con chung là Hồ Phan Minh H1, sinh năm 2005 và Hồ Phan Minh K, sinh ngày 25/6/2012, hiện cháu Hồ Phan Minh H1 đang ở với bà. Bà yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hồ Phan Minh K cho đến khi đủ 18 tuổi. Đối với con chung là Hồ Phan Minh H1 hiện đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là ông Hồ Lê H đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập nhưng không hợp tác giải quyết nên không có bản tự khai hoặc lời khai lưu tại hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng là nguyên đơn đảm bảo đúng pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không tuân thủ pháp luật tố tụng nên phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phan Thị Mỹ L về việc ly hôn với ông Hồ Lê H.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Hồ Phan Minh K, sinh ngày 25/6/2012 cho bà L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông H có quyền chăm sóc, giáo dục con chung mà không bị ai cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đề ra để xử lý.

Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn cư trú tại xã T, tỉnh Lâm Đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ giấy báo, giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Mỹ L và ông Hồ Lê H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà L và ông H là hợp pháp. Bà L trình bày, cuộc sống chung giữa bà và ông H không hạnh phúc và thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Hiện tại bà và ông H đã sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo hợp lệ phiên hoà giải đoàn tụ nhưng ông H vắng mặt. Bà L không có nguyện vọng đoàn tụ, đồng thời yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn dứt điểm để bà ổn định tâm lý, yên tâm làm ăn và nuôi dạy con cái.

Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà L và ông H thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

  1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
  2. ...

[2.2] Về con chung: Giữa bà Phan Thị Mỹ L và ông Hồ Lê H có các con chung gồm Hồ Phan Minh H1, sinh năm 2005 và Hồ Phan Minh K, sinh ngày 25/6/2012. Hiện con chung là Hồ Phan Minh H1, sinh năm 2005 đã trên 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự, bà L không yêu cầu giải quyết về việc nuôi con. Đối với con chung là Hồ Phan Minh K đang do bà nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hồ Phan Minh K.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chung ngày 31/10/2025, cháu Hồ Phan Minh K trình bày nguyện vọng được ở với mẹ là bà Phan Thị Mỹ L.

Xét thấy, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà L, giao cháu Hồ Phan Minh K cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

  1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
  2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Bà Phan Thị Mỹ L không yêu cầu nên không giải quyết.

[4] Xét quan điểm đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[5] Về án phí: Bà Phan Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15; Áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Mỹ L.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị Mỹ L và ông Hồ Lê H.
    2. Về con chung: Giao con chung là Hồ Phan Minh K, sinh ngày 25/6/2012 cho bà Phan Thị Mỹ L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc theo quy định của pháp luật.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Về án phí: Bà Phan Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006340 ngày 23/10/2025 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND Khu vực 8 - Lâm Đồng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - UBND xã Trường Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger