Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/DS-PT
Ngày: 16/01/2026
về việc tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Kiều

Các Thẩm phán: Ông Bùi Anh Tuấn

Bà Giang Thị Cẩm Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 474/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 58/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 541/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh ngày 10/9/1956 Số CCCD 096056005453 cấp ngày 10/8/2021. Địa chỉ cư trú: Ấp L, Xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Nay là Khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau (có mặt)

Bị đơn: Ông Ngô Hoài H, sinh năm: 1967. Số CCCD: 09606701586 cấp ngày 18/11/2021. Địa chỉ cư trú: Ấp L, Xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Nay là Khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau. (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Công K, sinh ngày 01/01/1961. CCCD số 096061005398 cấp ngày 14/8/2021. Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Nay là xã U, tỉnh Cà Mau. Theo văn bản ủy quyền ngày 31/7/2025 (có mặt)

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn N- Văn phòng L; thuộc Đoàn luật sư Tỉnh C. (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1969. Số CCCD: 096169001613 cấp ngày 25/9/2022. Địa chỉ cư trú: Ấp L, Xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Nay là Khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Công K, sinh ngày 01/01/1961. CCCD số 096061005398 cấp ngày 14/8/2021. Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Nay là xã U, tỉnh Cà Mau. Theo văn bản ủy quyền ngày 31/7/2025.

Do có kháng cáo của: Ông Ngô Hoài H là bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/3/2025 của nguyên đơn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như ý kiến bổ sung tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh T trình bày: Cha và mẹ ông là cụ ông Nguyễn Văn M và cụ bà Nguyễn Thị C, khai phá sử dụng đất được nhà nước cấp đất ngày 12/3/1990 thửa đất 96 gồm 500m² đất ở và 3.350m² đất lập vườn và thửa số 157 diện tích đất trồng lúa 16.060m², cùng tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Cụ ông Nguyễn Văn M mất năm 1979 và cụ bà Nguyễn Thị C mất năm 1977. Ông ở với cha mẹ nên sau khi cha mẹ mất ông trực tiếp sử dụng đất đến nay. Ngày 01/4/2013 ông được chỉnh lý sang tên quyền sử dụng đất cho ông với hình thức nhận thừa kế của cha và mẹ ông để lại. Trong quá trình sử dụng đất, ngày 22/5/2018 ông đã tặng cho con là Nguyễn Phú H2 và Nguyễn Hồng C1 đất lập vườn, ông còn lại tổng diện tích 18.655,3m², gồm 300m² đất ở, 2.295,3m² đất vườn và 16.060m² trồng lúa. Năm 2013 ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H3 3.630m² đất trồng lúa, thửa số 287 tờ bản đồ số 05, giáp ranh với thửa đất trồng lúa 157 của ông. Đến ngày 28/11/2013 ông được cấp quyền sử dụng đất nhận chuyển nhượng của ông H3. Quá trình sử dụng ông đã phá dỡ ranh đất hai thửa 157 và 287 để sử dụng chung. Phần đất trồng lúa giáp ranh với đất của ông H, ranh là con mương ông dùng để làm đường lấy nước vào ruộng và thoát nước, ông sử dụng từ khi làm ruộng năm 1993 đến nay, ông đưa sáng cuốc vào múc đường mương nước, ông H không có ý kiến. Đến tháng 11/2024 ông H đào lấy ống Bọng dẫn nước của ông đặt tại mương nước, ông trình báo UBND xã L giải quyết và ông H đã đặt lại ống bộng cho ông. Ông xác định mương nước là đất của ông do ông sử dụng nên yêu cầu ông H trả lại phần đất mương nước ngang 03m dài 20m. Năm 1993 khi bà Nguyễn Thị S là mẹ ông H đến mua đất của ông M1, ông không biết, không ai yêu cầu ông xác định ranh đất, ông không ký giáp ranh khi ông M1 và bà S chuyển nhượng, cho đến năm 2023 khi làm thủ tục cấp quyền sử dụng cho bà S ông mới ký giáp ranh.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, ông Ngô Hoài H trình bày: Vào năm 1993 mẹ của ông là cụ bà Nguyễn Thị S nhận chuyển nhượng từ ông Đinh Văn M1 phần đất 2,5 công đất vườn. Từ khi nhận chuyển nhượng từ năm 1993 ông ở cùng mẹ ông và sử dụng đến nay. Đến ngày 17/11/2023 mẹ ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2603,3m² thửa 132 tờ bản đồ số 5. Năm 2023 ông và mẹ ông có nhờ ông T làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ ông, nên ông T cố ý làm mất đất của ông và mẹ ông, phần con mương đất của mẹ ông nhưng không được cấp cho mẹ ông và ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 06/12/2023 mẹ ông tặng cho ông được chỉnh lý sang tên ông. Phần đất tranh chấp là con mương nước, ông cho ông T mượn sử dụng đến nay. Khi ông T đưa sang cuốc vào múc là múc mương giáp với đất người khác. Do giận nên ông đào ống B không cho ông T bơm nước chứ không lấy ống Bọng như ông T trình bày. Nay ông không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phần con mương khoảng 60m² đất của ông, ông không đồng ý trả theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 58/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau quyết định:

Căn cứ vào các Điều 166, 202, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Luật đất đai 2024; Các Điều 26, 147, 157, 158, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 12, 14, 24, 26 và 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T. Buộc ông Nguyễn Hoài H4 chấm dứt hành vi ngăn cản và trả lại cho ông Nguyễn Minh T sử dụng phần đất diện tích 61,3m² có vị trí theo bản vẽ là M5’M5M11, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau, này là khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh T đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Hoài H4 chấm dứt hành vi ngăn cản ông Nguyễn Minh T sử dụng đối với phần đất diện tích 19,9m² theo bản vẽ M5’M6M11, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau, này là khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 26 tháng 08 năm 2025, ông Ngô Hoài H kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Ngô Hoài H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

*Phần tranh luận tại phiên tòa:

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Phần đất phía gia đình của nguyên đơn đang quản lý, sử dụng do nhận thừa kế và chuyển nhượng thêm hiện tại thừa so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn dựa trên bản đồ không ảnh, không đo đạc thực tế, không có hộ giáp ranh ký tên nên không chính xác. Căn cứ kết quả đo đạc thực tế, đối chiếu với phần đất do ông M1 chuyển nhượng cho mẹ bị đơn có diện tích 2,5 công, tương đương 3240m² trong khi bà S (mẹ bị đơn) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2603m² là bị thiếu diện tích. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả đất là không có căn cứ. Ngoài ra, bị đơn cung cấp thêm lời khai ông M1 là chủ đất cũ đã chuyển nhượng đất cho bà S. Ông M1 xác định khi chuyển nhượng đất cho bà S có con kênh. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn theo hướng không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Hoài H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 58/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Kháng cáo của ông Ngô Hoài H được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Hoài H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. Về nguồn gốc đất cũng như quá trình sử dụng đất theo nguyên đơn xác định được nhận thừa kế của cha, mẹ. Gia đình nguyên đơn đã sử dụng đất từ khi cha, mẹ còn sống khoảng trước năm 1975, đến khi các cụ lần lượt qua đời thì nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử dụng. Phần đất tranh chấp cha, mẹ nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/3/1990 và nguyên đơn được chỉnh lý biến động vào ngày 01/4/2023. Bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc do mẹ bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Đinh Văn M1 từ năm 1992 với diện tích 2,5 công tầm lớn (tương đương 3.240m²), đã quản lý, sử dụng ổn định, không tranh chấp; đến năm 2023 được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.603,3m² và ngày 06/12/2023 được mẹ tặng cho toàn bộ phần đất nêu trên.
    2. Về hiện trạng đất tranh chấp các bên đương sự thống nhất xác định là con mương xổ nước do gia đình nguyên đơn sử dụng; kết quả đo đạc thực tế có diện tích 81,2m². Bị đơn cho rằng phần đất này do gia đình bị đơn cho gia đình nguyên đơn mượn. Nguyên đơn không thừa nhận có việc mượn đất như trình bày của bị đơn. Bị đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình.
    3. Bị đơn cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn được cấp từ năm 1990 không tiến hành đo đạc, xác định cụ thể vị trí, kích thước thửa đất. Trong khi đất của bị đơn được cấp năm 2023 có đo đạc, xác định rõ ranh giới nên không có cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.
    4. Xét thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhà nước cấp cho gia đình bị đơn năm 2023 chỉ công nhận diện tích 2.603,3m². Phần diện tích con mương đang tranh chấp không được thể hiện trong phạm vi thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ bị đơn và cũng không được chỉnh lý sang tên cho bị đơn.
    5. Tuy nhiên, theo bản vẽ hiện trạng ngày 06/8/2025 sau khi điều chỉnh tọa độ định vị khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để đảm bảo đủ diện tích 2.603,3m² vị trí đất M5’M6M11 có diện tích 19,9m² trong diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn, vị trí đất M5'M5M11 trong diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn có diện tích 61,3m².
    6. Từ căn cứ nêu trên, Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về chấm dứt hành vi ngăn cản và trả lại cho ông Nguyễn Minh T sử dụng phần đất diện tích 61,3m² có vị trí theo bản vẽ là M5’M5M11, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau) là đúng quy định của pháp luật.
    7. Tại cấp phúc thẩm, ông Ngô Hoài H là bị đơn có kháng cáo, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng bị đơn cung cấp thêm lời khai của ông M1 là chủ đất cũ đã chuyển nhượng đất cho bà S. Ông M1 xác định khi chuyển nhượng đất cho bà S có con kênh, tuy nhiên nội dung này cũng không có căn cứ xác định đất tranh chấp là của bị đơn, vì như các nhận định ở phần trên. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Hoài H, cũng như ý kiến của Luật sư; giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
  3. Xét đề nghị của kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Hoài H không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Hoài H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 58/2025/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau.

Áp dụng các Điều 166, 202, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Luật đất đai 2024; Các Điều 26, 147, 157, 158, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 12, 14, 24, 26 và 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T. Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoài H4 chấm dứt hành vi ngăn cản và trả lại cho ông Nguyễn Minh T sử dụng phần đất diện tích 61,3m² có vị trí theo bản vẽ là M5’M5M11, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau).
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Minh T đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Hoài H4 chấm dứt hành vi ngăn cản ông Nguyễn Minh T sử dụng đối với phần đất diện tích 19,9m² theo bản vẽ M5’M6M11, đất tọa lạc tại ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là khóm L, phường L, tỉnh Cà Mau).
  3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Hoài H4 phải chịu 16.018.000 đồng. Ông Nguyễn Minh T đã tạm nộp và chi hết. Buộc ông Nguyễn Hoài H4 nộp 16.018.000 đồng, để hoàn trả cho ông ông Nguyễn Minh T số tiền 16.018.000 đồng (Mười sáu triệu không trăm mười tám ngàn đồng).
  4. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự không có giá ngạch 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) ông Nguyễn Hoài H4 phải nộp (chưa nộp). Ông Nguyễn Minh T được miễn nộp án phí, đã được miễn nộp tạm ứng án phí.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Hoài H phải chịu 300.000 đồng. Vào ngày 26 tháng 8 năm 2025, Ông Ngô Hoài H đã dự nộp 300.000 đồng, biên lai số 0000129, được chuyển thu.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lệ Kiều

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2026/DS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 37/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger