|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 369/2025/HS-PT Ngày: 25 - 12 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Bà Nguyễn Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Nam – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 25 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 311/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
1/ Nguyễn Thị T, sinh năm 1973, tại tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nữ.
- Nơi đăng ký thường trú: số 220 tổ G, ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12. Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Nguyễn Văn Bé B, sinh năm 1936. Đã chết và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1941. Đã chết. Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1963, nhỏ nhất sinh năm 1979; Chồng: Hàng Bá H, sinh năm 1970, ngụ cùng địa chỉ với bị cáo; Con ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007.
- Tiền sự, tiền án: Không.
- Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T: Luật sư Đinh Thị Bé M – chi nhánh Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh B.
2/ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1976, tại tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nữ.
- Nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1936 và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1941 (đã chết). Anh, chị, em ruột: 07 người, lớn nhất sinh năm 1965, nhỏ nhất sinh năm 1986. Chồng: Hàng Bá T1, sinh năm 1978, ngụ cùng địa chỉ với bị cáo; Con ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2005.
- Tiền sự, tiền án: Không.
1
- Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, bản án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T là chủ nhà, tổ chức cho 11 đối tượng tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền. Ngày 02/5/2024, Nguyễn Thị Đ đến nhà T hỏi có đánh bài không thì T trả lời có, sau đó T điện thoại rủ Đặng Ngọc T2, Nguyễn Thị N, Lê Thị Mỹ L, Nguyễn Văn D đến nhà T đánh bài thì tất cả đồng ý. Trước khi đến nhà T thì T2 điện thoại rủ L2 và B, L điện thoại rủ Mộng T4 và H1. Đối với Nguyễn Thị Thanh T3 và Hồ Thị Ngọc L1 tự đến nhà T4. Khi các đối tượng đến nhà T4, T4 quy định mỗi người tham gia đánh bài phải đóng cho T4 50.000 đồng, ai ăn cơm thì đóng thêm cho T4 50.000 đồng để mua thức ăn. Tuyền không tham gia đánh bài.
Nguyễn Thị Đ mua 03 bộ bài tây, sau đó sử dụng một cái mền trong nhà T4 để làm chiếu bạc. Đang làm cái để các đối tượng tham gia đánh bạc với hình thức bài binh Ấn Độ 06 lá. Đang chia 08 tụ bài, trong đó 01 tụ cái và 07 tụ chơi gồm T2, L, L2, N, Ba, T3, Mộng T4. Đồng thời tham gia chơi ké (chơi chung tụ) gồm Lý ké vào tụ bài cái của Đ, D ké vào tụ bài của Mộng T4 và H1 ké vào tụ bài của L. Đang chia mỗi tụ 06 lá bài. Cách thức chơi là mỗi tụ chơi chia thành hai dây bài trên và dưới, mỗi dây có 03 lá, sau đó cộng nút của 03 lá bài (cộng nút giống như bài cào từ 01 nút, 02 nút, 03 nút, 04 nút, 05 nút, 06 nút, 07 nút, 08 nút, 09 nút, bù nút và ba con tây là cào). Khi so bài thắng thua là mỗi tụ chơi so với tụ cái, có các trường hợp sau: Nếu trong hai dây bài đều lớn nút hơn tụ cái thì thắng tụ cái và ngược lại nếu hai dây bài đều nhỏ nút hơn tụ cái thì thua tụ cái, nếu một dây bài lớn nút hơn tụ cái và một dây bài bằng nút với tụ cái thì thắng tụ cái, nếu một dây bài nhỏ nút hơn tụ cái và một dây bài lớn nút hơn tụ cái thì huề, nếu hai dây bài điều bằng nút tụ cái thì huề. Đang quy định mỗi ván đặt cược từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Khi kết thúc ván bài thì mỗi tụ bài chung tiền hoặc nhận tiền thắng, thua với tụ cái tương ứng với số tiền đã đặt cược.
Đối với D tham gia đặt cược chung với tụ bài của Mộng T4, H1 tham gia đặt cược chung với tụ bài của L. D và H1 muốn đặt cược bao nhiêu sẽ nói cho Mộng T4 và L biết để cộng thêm vào tiền cược của Mộng T4 và L. Khi kết thúc ván bài có kết quả thắng thua với tụ bài cái, D và H1 sẽ nhận tiền thắng hoặc chung tiền thua tương ứng với số tiền đặt cược đã nói với Mộng T4 và L. Lý tham gia đánh bạc thông qua tụ bài cái của Đ, mỗi ván là 100.000 đồng, khi kết thúc ván bài Đang so bài thắng thua và chung chi tiền cho tất cả các tụ chơi xong, nếu Đang có lời (thắng) thì Đang chung cho L1 100.000 đồng, nếu Đang bị lỗ (thua) thì L1 chung cho Đang 100.000 đồng.
2
Ngày 02/5/2024, các bị cáo chơi đánh bài từ khoảng 11 giờ đến 12 giờ 20 phút, đã chơi khoảng 10 ván bài, khi Đang chia bài ván tiếp theo thì lực lượng công an đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản, không có đối tượng chạy thoát.
* Kết quả thắng thua như sau:
- - Nguyễn Thị Đ (tụ bài cái): khai mang theo số tiền 36.000.000 đồng, trong đó dự định dùng 7.800.000 đồng để đánh bạc, không nhớ đã chơi bao nhiêu ván và số tiền thắng, thua từng ván. Khi công an đến thì tổng số tiền thua là 600.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 400.000 đồng.
- - Nguyễn Thị Thanh T3: khai mang theo số tiền 3.000.000 đồng, trong đó dự định dùng 2.900.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền thua là 200.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 300.000 đồng.
- - Lê Thị Mỹ L: khai mang theo số tiền 1.960.000 đồng, trong đó dự định dùng 1.500.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền thua là 200.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 1.300.000 đồng.
- - Đặng Kim L2: khai mang theo số tiền 17.000.000 đồng, trong đó dự định dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền thua là 700.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 300.000 đồng.
- - Đặng Ngọc T2: khai mang theo số tiền 7.700.000 đồng, trong đó dự định dùng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Đã đóng cho Nguyễn Thị T 100.000 đồng (tiền vào đánh bài và tiền cơm). Tổng số tiền thua là 400.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 500.000 đồng.
- - Nguyễn Thị N: khai mang theo số tiền 2.900.000 đồng, trong đó dự định dùng 1.800.000 đồng để đánh bạc. Đã đóng cho Nguyễn Thị T 100.000 đồng (tiền vào đánh bài và tiền cơm). Kết quả chơi không thắng không thua. Số tiền còn trên chiếu bạc là 1.800.000 đồng.
- - Trần Thị Mộng T4: khai mang theo số tiền 24.000.000 đồng, trong đó dự định dùng 3.000.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền thua là 400.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 2.600.000 đồng.
- - Đỗ Thị B1: khai mang theo số tiền 6.000.000 đồng, trong đó dự định dùng 600.000 đồng để đánh bạc. Đã đóng cho Nguyễn Thị T 100.000 đồng (tiền vào đánh bài và tiền cơm). Kết quả chơi không thắng không thua. Số tiền còn trên chiếu bạc là 500.000 đồng.
- - Hồ Thị Ngọc L1: khai mang theo số tiền 500.000 đồng, dự định dùng hết để đánh bạc. Kết quả chơi không thắng không thua. Không có tiền trên chiếu bạc.
- - Nguyễn Văn D: khai mang theo số tiền 6.100.000 đồng, trong đó dự định dùng 200.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền thắng là 1.000.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 1.200.000 đồng.
- - Nguyễn Hồng H1: khai mang theo số tiền 900.000 đồng, dự định dùng hết để đánh bạc. Đã đóng cho Nguyễn Thị T 100.000 đồng (tiền vào đánh bài và tiền cơm). Tổng số tiền thua là 100.000 đồng. Số tiền còn trên chiếu bạc là 100.000 đồng.
3
* Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.000.000 đồng, ngoài ra còn thu giữ tại khu vực các bị cáo ngồi đánh bạc là 4.000.000 đồng. Đây là toàn bộ số tiền đặt cược ván bài đang chơi và tiền các bị cáo dùng để đánh bạc.
* T5 thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc: Nguyễn Thị T đã thu của các bị cáo tham gia đánh bạc tổng số tiền là 750.000 đồng, trong đó tiền vào nhà T để đánh bài là 400.000 đồng, tiền ăn cơm là 350.000 đồng.
Thu giữ và xử lý vật chứng, đồ vật liên quan trong vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã kiểm tra, thu giữ:
* Thứ nhất, vật chứng và tiền dùng đánh bạc của các bị cáo:
- - Số tiền 5.000.000 đồng (gồm tiền trên chiếu bạc, tiền đặt cược và tiền dùng để đánh bạc).
- - 03 (Ba) bộ bài tây;
- - 01 (Một) cái mền bằng vải màu đỏ có hoa văn hình bông màu vàng, kích thước (214 x 177) cm. Đây là đồ vật tại nhà của Nguyễn Thị T, dùng để làm chiếu bạc.
* Thứ hai, thu giữ của các bị cáo:
- Của Nguyễn Thị T:
- + Số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính.
- + Số tiền 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng). Đây là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO A38, màu đen, Model: CPH2579, số IMEI 1: 863017069854453, số IMEI 2: 863017069854446. Đây là điện thoại T sử dụng để rủ các bị cáo đến nhà chơi đánh bạc vào ngày 02/5/2024.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SIRIUS, màu sơn đen trắng, biển số 63B4-131.51, số máy: 5C64854650, số khung: RLCS5C640CY854643. Xe này do anh Hàng Bá H2 (con ruột T), sinh năm 1993, ngụ ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký, H2 đi làm nên để xe ở nhà. Xe không liên quan đến việc đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã xử lý vật chứng trả lại xe cho anh H2.
- Của Nguyễn Thị Đ:
- + Số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng). Trong đó số tiền dùng để đánh bạc là 6.800.000 đồng (Sáu triệu tám trăm nghìn đồng).
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn: Xanh, biển số 94K1-398.35, số khung: RLHJF5806EY563258, số máy: JF58E0449057. Xe này Đ sử dụng đến nhà T. Qua xác minh, Đ mua xe của chị Quách Thị Thanh H3, sinh năm 1980, ngụ số F, ấp G, xã H, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu vào năm 2020 với giá 10.000.000 đồng, khi mua không làm hợp đồng và chưa sang tên. Xe do chị H3 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký, hiện tại chị H3 không có yêu cầu gì.
- Của Nguyễn Thị Thanh T3:
4
- + Số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), là số tiền dùng để đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Realme UI 4.0, màu đen, kiểu máy RMX3491, số IMEI 1: 866012050034774, số IMEI 2: 866012050034776. Đây là tài sản nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn Đỏ Đen, biển số 63X6-1960, số máy: HC09E5429562, số khung: bị rỉ sét không đọc được số. Xe này do bà Nguyễn Thị D1 (mẹ ruột T3), sinh năm 1958, ngụ ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Bà D1 cho T3 mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết việc T3 đến nhà T đánh bạc. Trước đây xe bị hư hỏng nên bà D1 có sửa chữa, xe không thay đổi số khung, số máy. Việc số khung bị rỉ sét bà D1 không biết nguyên nhân. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã xử lý vật chứng trả lại xe cho bà D1.
- Của Lê Thị Mỹ L:
- + Số tiền 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu iPhone 8 Plus, màu hồng, số sê-ri: FDGW20F4JCM7, số IMEI: 35673608446083. Đây là tiền và tài sản cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động bàn phím, hiệu Nokia, màu đen, số model: TA-1174, số IMEI 1: 357723106416359, số IMEI 2: 357723106416403. Đây là điện thoại L sử dụng nhận cuộc gọi của T rủ đến nhà để đánh bạc.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA VISION, màu sơn Trắng, biển số 63C1-082.10, số máy: JF86E0168596, số khung: RLHJF582XKY011677. Xe này do chị Châu Thị Mỹ H4 (con ruột L), sinh năm 1999, ngụ số A Đ, Phường H, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Chị H4 không biết L mượn xe đến nhà T đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã xử lý vật chứng trả lại xe cho chị H4.
- Của Đặng Kim L2:
- + Số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Trong đó số tiền dùng để đánh bạc là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu S A22, màu xanh, số IMEI 1: 358475776341499, số IMEI 2: 359111896341494, Số sê-ri: R58RC4MN1RN. Đây là tài sản cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- Của Đặng Ngọc T2:
- + Số tiền 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng). Đây là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động bàn phím, hiệu Nokia, màu đen, model: TA-1030, số IMEI 1: 357329084207648, số IMEI 2: 357329086207646. Đây là điện thoại T2 sử dụng nhận cuộc gọi của T rủ đến nhà để đánh bạc.
- + 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS FI, màu sơn Xám Xanh, số máy: E3T6E434743, số khung: RLCUE1720KY066088, biển số 63B4-737.94. Xe này do anh Hồ Thanh T6 (con ruột T2), sinh năm 1995, ngụ
5
- ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Anh T6 không biết T2 mượn xe đến nhà T đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã xử lý vật chứng trả lại xe cho anh T6.
- Của Nguyễn Thị N:
- + Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Đây là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động bàn phím, hiệu Nokia, màu đen, model: TA-1174, số IMEI 1: 356613728317678, số IMEI 2: 356613729317677. Đây là điện thoại N sử dụng nhận cuộc gọi của T rủ đến nhà để đánh bạc.
- + 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS FI, màu sơn: Đen, số khung: RLCS1FC30FY116421, số máy: 1FC3116410, biển số: 71B2-475.01. Xe này N sử dụng đến nhà T, xe do N đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
- Của Trần Thị Mộng T4:
- + Số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Đây là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu S A30, màu xanh. Đây là tài sản cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, số loại: FUTURE FI, màu sơn: Xanh Đen, biển số: 63C1-442.66, số khung: RLHJC7653NY144948, số máy: JC90E0314945. Xe này Mộng T4 sử dụng đến nhà T4, xe do Mộng T4 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
- Của Đỗ Thị B1:
- + Số tiền 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Đây là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, màu sơn: Đỏ Nâu, số khung: RLHJF5839L Y535865, số máy: JF86E0441247, biển số: 63B4-762.80. Xe này B1 sử dụng đến nhà T4, xe do Ba đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
- Của Hồ Thị Ngọc L1:
- + Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), là số tiền dùng để đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động bàn phím, hiệu Nokia, màu đen, model: TA-1114, số IMEI 1: 357680109560803, số IMEI 2: 357680109840809 và 01 (Một) điện thoại di động bàn phím, hiệu Nokia, màu đen, Model: TA-1010, số IMEI: 357678101994293. Đây là tài sản cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- Của Nguyễn Văn D:
- + Số tiền 5.900.000 đồng (Năm triệu chín trăm nghìn đồng). Đây là tiền cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng, hiệu S A20, màu đen, số sê-ri: R58M6212VVK, số IMEI 1: 357648105566306, số IMEI 2: 357649105566304. Đây là điện thoại D sử dụng nhận cuộc gọi của T4 rủ đến nhà để đánh bạc.
6
- + 01 (Một) điện thoại di động iPhone XS Max, màu hồng. Đây là tài sản cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu: SYM, số loại: ATTILA, màu sơn: Đỏ, số máy: VMVUACD037851, số khung: RLGKA11CD-DD037851, biển số: 63B9-300.76. Xe này D sử dụng đến nhà T4, xe do D mua lại của người khác và đã làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn D.
- Của Nguyễn Hồng H1:
- + 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu iPhone X, màu đen. Đây là tài sản cá nhân, không sử dụng vào việc đánh bạc.
- + 01 (Một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu TAURUS, màu sơn đỏ đen, biển số 63B9-033.82. Xe này H1 sử dụng đến nhà T4. Qua xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1986, ngụ số A H, khu phố H, Phường H, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Chị N1 cho H1 mượn xe và không biết việc H1 đến nhà T4 đánh bạc.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hồng H1 đã chết. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đình chỉ điều tra vụ án đối với bị cáo Nguyễn Hồng H1, xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động cảm ứng hiệu iPhone X, màu đen cho bà Nguyễn Thị Mỹ H5 (mẹ ruột H1), sinh năm 1966, ngụ số E, Huyện L, khu phố B, Phường 1, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang và trả lại xe mô tô hai bánh nhãn hiệu TAURUS, màu sơn đỏ đen, biển số 63B9-033.82 cho chị Nguyễn Thị Ngọc N1.
+ Đối với số tiền 600.000 đồng của Nguyễn Hồng H1 khai sử dụng vào việc đánh bạc. Khi công an đến, H1 bỏ chạy làm rơi mất, không rõ ở đâu nên không thu giữ được.
Ngày 30/9/2024, Nguyễn Hồng H1 nhảy xuống sông T tự tử. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố M, tỉnh Tiền Giang thụ lý xác minh, kết luận H1 tử vong do ngạt nước. Do không có sự việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố M ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 2746/QĐ-ĐTTH ngày 14/10/2024. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can số 1225, Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 1226 cùng ngày 03/11/2024 đối với Nguyễn Hồng H1.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”.
Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
* Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T 01 năm tù. Thời hạn tù được tính khi bị cáo chấp hành án.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
7
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự.
* Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Đ 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/7/2025, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo hoặc phạt tiền.
Ngày 02/7/2025, bị cáo Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị Đ rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo và người bào chữa cho rằng bị cáo T là lao động chính trong gia đình, đang điều trị bệnh, có nhân thân tốt nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và chuyển sang hình phạt tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm. Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét.
Việc bị cáo Đ tại phiên tòa rút yêu cầu kháng cáo là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đ.
Đối với bị cáo T, cấp sơ thẩm truy tố và xét xử bị cáo T theo điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã áp dụng đầy đủ, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp pháp luật, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận Nguyễn Thị T là chủ nhà, đã tổ chức cho 11 đối tượng tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền tại nhà mình vào ngày 02/5/2024, khi bị cáo Nguyễn Thị Đ cùng các bị cáo khác sát phạt được khoảng 10 ván (khoảng 12 giờ cùng ngày) thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang thu giữ số tiền 5.000.000 đồng (gồm tiền trên chiếu bạc, tiền đặt cược và tiền dùng để đánh bạc) và 03 bộ bài tây, cấp sơ thẩm truy tố và xét xử bị cáo T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ luật
8
hình sự; truy tố và xét xử Nguyễn Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Ngày 17/6/2025 Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử vụ án, không đồng ý với bản án sơ thẩm, các ngày 01 và 02/7/2025, các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Đ kháng cáo bản án là trong thời hạn luật định theo quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ vì đam mê cờ bạc mà các bị cáo rủ rê, lôi kéo đồng bọn tổ chức đánh bạc trái phép tại nhà, sát phạt nhiều ván với số tiền ăn thua lớn, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, cờ bạc cũng là một trong các yếu tố để phát sinh nhiều tội phạm nghiêm trọng khác, việc xử lý nghiêm khắc hành vi đánh bạc trái phép là cần thiết để răn đe, phòng ngừa.
Trong vụ án này cấp sơ thẩm truy tố và đưa ra xét xử tổng cộng 11 bị cáo, trong đó bị cáo T bị truy tố và xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự, truy tố và xét xử bị cáo Đ và 09 bị cáo khác về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và đã tuyên phạt 03 bị cáo tù có thời hạn, 08 bị cáo phạt tiền từ 30.000.000₫ - 40.000.000đ, bị cáo T bị tuyên phạt 01 năm tù và phạt bổ sung 20.000.000đ, bị cáo Đ bị phạt 40.000.000₫
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đ rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, việc rút kháng cáo của bị cáo Đ là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đ.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo T xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền vì đang là lao động chính trong gia đình, xét thấy lúc xét xử Tòa sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù và phạt bổ sung 20.000.000₫ là tương xứng, không nghiêm khắc, trong vụ án này bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc”, vai trò là người chủ mưu, cầm đầu, trước đó vào năm 2017 bị cáo từng bị xử phạt hành chính, bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ ở điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự không đủ điều kiện được xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên yêu cầu xin hưởng án treo không có căn cứ để xem xét.
Về việc xin chuyển sang hình phạt tiền, như đã nhận định ở phần trên, cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng, bị cáo là
9
người chủ mưu cầm đầu, năm 2017 bị xử phạt hành chính về hành vi chứa chấp cờ bạc, nếu áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cho bị cáo sẽ không đủ răn đe, phòng ngừa nên yêu cầu kháng cáo này cũng không được chấp nhận.
Việc xử lý vật chứng đã giải quyết xong ở giai đoạn sơ thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xét lại.
[3] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến bào chữa của Luật sư không phù hợp nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí: các bị cáo chịu án phí theo luật định.
[5] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận việc rút yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Đ.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Đ
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức Đánh bạc”.
Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T 01 năm tù. Thời hạn tù được tính khi bị cáo chấp hành án.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo T 20.000.000 đồng ( Hai mươi triệu đồng).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thái Dũng |
10
11
Bản án số 369/2025/HS-PT ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 369/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức Đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
