Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 361/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/12/2025

Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
  • Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 274/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Ngọc D, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, tỉnh An Giang - (Có đơn xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Lâm Hoàng K, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, tỉnh An Giang - (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị Ngọc D trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2014, chị và anh Lâm Hoàng K tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 138, quyển số 01 ngày 03/12/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về sinh sống tại khu phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp Đ, xã H, tỉnh An Giang).

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến thời gian sau này giữa chị và anh K phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn hợp nhau nữa, không có tiếng nói chung, anh K thường xuyên cờ bạc, chị đã khuyên nhủ anh K từ bỏ nhiều lần để chăm lo cho cuộc sống gia đình, vợ con, nhưng anh K vẫn không thay đổi và đã ly thân với nhau. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh K.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh K có một người con chung tên Lâm Hoàng P, sinh ngày 27/12/2016. Hiện nay, con chung đang sinh sống cùng với chị. Vì vậy, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị D xác nhận quá trình chung sống chị và anh K không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Lâm Hoàng K:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nguyễn Thị Là L mẹ ruột của anh K nhận thay và cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh K, nhưng anh K đều vắng mặt. Đồng thời, Tòa án có điện thoại cho anh K, thông báo về việc chị D xin ly hôn và nuôi con với anh, anh K đồng ý với yêu cầu của chị D, nhưng do mới xin vô làm, nên không về Tòa được, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh K đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Đỗ Thị Ngọc D yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Lâm Hoàng K. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Lâm Hoàng K có nơi cư trú hiện nay tại ấp Đ, xã H, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Ngọc D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lâm Hoàng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị D và anh K tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 138, quyển số 01 ngày 03/12/2014. Như vậy, hôn nhân giữa chị D với anh K là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị D về việc xin ly hôn với anh K thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị D và anh K có phát sinh mâu thuẫn, mà theo chị D cho rằng vợ chồng không còn hợp nhau nữa, không có tiếng nói chung, anh K thường xuyên cờ bạc, chị đã khuyên nhủ anh K từ bỏ nhiều lần để chăm lo cho cuộc sống gia đình và vợ con, nhưng anh K vẫn không thay đổi, chứng nào tật nấy và đã ly thân nhau. Chị D cũng xác định trong thời gian chị và anh K sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh K không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị D bỏ qua mọi chuyện, cho anh K thêm một cơ hội để đoàn tụ gia đình, nuôi dạy con cái, nhưng chị D vẫn kiên quyết ly hôn với anh K. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh K nhiều lần thông qua người nhận là bà Nguyễn Thị L - mẹ ruột của anh K nhận thay và cam kết sẽ chuyển thông tin đến anh K, nhưng anh K đều vắng mặt. Đồng thời, Tòa án có điện thoại cho anh K, thông báo về việc chị D xin ly hôn và nuôi con với anh, anh K đồng ý với yêu cầu của chị D, nhưng do mới xin vô làm, nên không về Tòa được, điều này chứng tỏ anh K cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị D.

Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa chị D với anh K đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị D yêu cầu được ly hôn với anh K là có cơ sở.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh K.

[3.2] Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị D và anh K có một người con chung tên Lâm Hoàng P, sinh ngày 27/12/2016. Hiện nay, con chung đang sinh sống cùng với chị D. Vì vậy, khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Chị D không yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

HĐXX xét thấy, từ khi chị D và anh K sống ly thân với nhau cho đến nay, thì chị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P và hiện cháu P vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu P phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho chị D được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu P là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị D xác nhận giữa chị và anh K không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Ngọc D được ly hôn với anh Lâm Hoàng K.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Lâm Hoàng P, sinh ngày 27/12/2016 cho chị Đỗ Thị Ngọc D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
    • - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Đỗ Thị Ngọc D nuôi con; anh Lâm Hoàng K được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Đỗ Thị Ngọc D xác nhận giữa chị và anh Lâm Hoàng K không tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Đỗ Thị Ngọc D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009017 ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị D không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 4 - An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - UBND xã Hòn Đất, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 361/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 361/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Ngọc D kiện Lâm Hoàng K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger