TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày: 25/12/2025 | ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Chu Quang Liêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.
Ngày 25/12/2025, tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 11/12/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 04/5/1980, số CCCD 030080000532 (ngày cấp 04/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH), tại xã T, thành phố Hải Phòng; Nơi thường trú: Thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1946; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1949; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1987, có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 85 ngày 09/05/2024 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai (nay là TAND Khu vực 1, tỉnh Đồng Nai) đối với L, thời gian 18 tháng, (sau đó được giảm thời gian chấp hành, L chấp hành xong ngày 30/6/2025 – chưa được xóa); Tiền án: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 45 ngày 03/04/2007 của Toà án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (nay là TAND Khu vực 8, thành phố Hải Phòng) xử phạt L 24 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/07/2008, nộp tiền án phí HSST ngày 21/8/2007 - đã được xóa).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2025 đến ngày 30/8/2025; chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số A136 ngày 30/8/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H. Hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực T, thuộc Trại tạm giam số 2, Công an thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị K, sinh năm 1965; Đều có địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng.
Người được bà Phạm Thị K ủy quyền: Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng
Ông Q vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L là người nghiện ma tuý (Heroine) từ năm 2006. Tháng 5 năm 2024, L bị đưa đi cai nghiện ma tuý bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma tuý số 01 Công an tỉnh Đ, theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 85 ngày 09/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Ngày 30/6/2025, L chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến tháng 07/2025, L về cư trú tại xã T, thành phố Hải Phòng.
Khoảng 13 giờ, ngày 21/8/2025, L đi bộ từ nhà ở thôn A, xã T ra đường Q để đi nhờ người đi đường đến ngã tư Quán P thuộc xã G, thành phố Hải Phòng. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực nhà ông Nguyễn Đình Q, sinh năm: 1963, ở thôn A, xã T, L nhìn thấy trước cổng nhà ông Q có 01 xe mô tô Honda Dream, màu nâu, gắn biển số 34F8- 1477 của ông Q dựng chìa khóa vẫn cắm tại ổ khoá điện, không có người trông coi nên L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này bán lấy tiền chi tiêu. L đi đến vị trí chiếc xe mô tô vặn khóa điện nổ máy rồi điều khiển xe mô tô đi ra Quốc lộ C đến xã G, thành phố Hải Phòng để tìm nơi tiêu thụ. Do chưa bán được xe nên khoảng 16 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã tư Quán P, xã G ngồi uống nước. Tại đây, L gặp và mua 01 gói ma tuý Heroine của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ với giá 100.000 đồng. Sau đó, L đi xe mô tô đến khu vực cánh đồng thôn A, xã T dùng kim tiêm sử dụng hết ma tuý mua được. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, L bị Công an xã T phát hiện bắt giữ, thu giữ xe mô tô Honda Dream, màu nâu, biển số 34F8-1477.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 90 ngày 26/8/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: 01 xe mô tô Honda Dream, sản xuất năm 2001, tại Thái Lan, biển số đăng ký 34F8 – 1477, tại thời điểm ngày 21/8/2025 có giá trị 5.200.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 827 ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn L gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine; Morphine là sản phẩm chuyển hoá được tìm thấy khi con người sử dụng chất ma tuý loại Heroine, Thuốc phiện hoặc trực tiếp sử dụng Morphine.
Cáo trạng số 13/CT-VKSKV11 ngày 03/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 11 – Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại đơn đề nghị vắng mặt bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND khu vực 11 – Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (BLHS); Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 08 tháng tù đến 11 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2025. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định nội dung bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H và quyết định truy tố, luận tội của VKSND khu vực 11 – Hải Phòng đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 21/8/2025, tại đường xóm trước cổng nhà ông Nguyễn Đình Q ở thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sở hở ông Q dựng xe mô tô vẫn cắm chìa khoá điện ở ổ khoá, không có ai quản lý, Nguyễn Văn L đã lén lút trộm cắp 01 xe máy Honda Dream, mầu nâu, biển số 34F8- 1477 của ông Q. Trị giá xe máy là 5.200.000 đồng.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do cần tiền để tiêu xài, lại lười lao động nên bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.200.000 đồng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền sự, mặc dù Bản án hình sự sơ thẩm số 45 ngày 03/04/2007 của Toà án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo đã được xóa án tích nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tạiu giai đoạn điều tra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Mặc dù bị cáo bị cáo đã bị xét xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số 45 ngày 03/04/2007 của Toà án nhân thành phố H, tỉnh Hải Dương nhưng đến nay đã được xóa án tích, lần phạm tội này bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS là tội ít nghiêm trọng, theo quy định tại mục 9 Điều 2 Nghị quyết sô 04 ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì cùng được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, do đó, HĐXX không xem xét.
[9] Về vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô Honda Dream, mầu nâu, biển số 34F8- 1477, ngày 08/9/2025, Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho ông Nguyễn Đình Q là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
Đối với 02 thẻ nhớ lưu giữ hình ảnh video liên quan đến vụ án được tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án
[10] Đối với người đàn ông bán ma tuý cho L. Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý: Bản thân bị cáo L là người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai thuộc xã X, tỉnh Đồng Nai từ 09/5/2024 đến ngày 30/6/2025. Do cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý số 1 Công an tỉnh Đ không gửi thông báo về việc L đã chấp hành xong biện pháp cai nghiện ma tuý bắt buộc cho UBND phường T, tỉnh Đồng Nai và UBND xã T, thành phố Hải Phòng để ra quyết định lập hồ sơ quản lý đối với L sau cai nghiện ma tuý theo quy định nên UBND phường T và UBND xã T không phân công cho đơn vị nào lập hồ sơ quản lý đối tượng sau cai nghiện ma tuý đối với L; hơn nữa sau khi về sinh sống tại xã T bị cáo không đến trình báo với địa phương về việc chấp hành xong biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên L không thuộc trường hợp đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý. Do vậy hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của L vào ngày 21/8/2025 không cấu thành tội: Sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017, 2025). Vì vậy ngày 17/11/2025, Trưởng Công an xã T, thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 532 đối với Nguyễn Văn L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (BLHS); Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2025;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Giang |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 25/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 21/8/2025, tại đường xóm trước cổng nhà ông Nguyễn Đình Q ở thôn A, xã T, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sở hở ông Q dựng xe mô tô vẫn cắm chìa khoá điện ở ổ khoá, không có ai quản lý, Nguyễn Văn L đã lén lút trộm cắp 01 xe máy Honda Dream, mầu nâu, biển số 34F8- 1477 của ông Q. Trị giá xe máy là 5.200.000 đồng
