Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

Bản án số: 35/2026/DS-PT

Ngày: 19 -01-2026V/v:

“Tranh chấp về Hợp đồng dân sự

vay tài sản”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm

Bà Nguyễn Thị Hải Âu

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Xuân Hiếu là thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Minh Công – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 541/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp về Hợp đồng dân sự vay tài sản”

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 95/2025/DS-ST ngày 30-9-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lâm Đồng bị kháng cáo

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 690/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 478/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đạo Đ, sinh năm 1967 và bà Tạ Thị Thanh L, sinh năm 1971; địa chỉ: Số B thôn A, xã H, tỉnh Lâm Đồng.

Ông Nguyễn Đạo Đ uỷ quyền cho bà Tạ Thị Thanh L, theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 05/6/2025. Có mặt.

Bị đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm: 1965; địa chỉ: A, quốc lộ B, tổ B, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người kháng cáo: Bà Trần Thị N – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L trình bày:

Vợ chồng ông, bà và bà Trần Thị N là chỗ quen biết, ngày 21/12/2022 bà N có vay của vợ chồng ông, bà số tiền 300.000.000 đồng. Khi vay bà N có viết giấy và ký giấy mượn tiền, vợ chồng ông bà giao cho bà N bằng tiền mặt, thời hạn vay là 01 tháng, khi vay bà N có giao cho vợ chồng ông bà 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 340468 để làm tin, trong giấy mượn tiền không ghi lãi suất, nhưng hai bên có thoả thuận lãi suất bằng miệng với nhau là 3%/ tháng. Bà N1 có trả lại được 02 tháng tiền lãi theo thoả thuận, mỗi tháng 9.000.000 đồng lãi, sau đó bà N1 có chuyển khoản trả cho bà được một số tiền lãi nữa. Quá thời hạn trả nợ vợ chồng ông bà đòi nhiều lần nhưng bà N1 cứ khất lần không trả. Đến tháng 3/2025 bà N1 có thoả thuận bằng miệng với vợ chồng ông bà là bà N1 sẽ trả dần mỗi tháng trả 50.000.000 đồng nợ gốc, lãi suất trả theo ngân hàng. Vợ chồng ông bà cũng tạo điều kiện cho bà N1 trả dần như ý của bà N1 nhưng bà N1 chỉ hứa mà không thực hiện. Nay vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu bà N1 có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông bà 300.000.000 đồng nợ gốc và 54.000.000 đồng tiền lãi suất. Vợ chồng ông bà đồng ý trả lại cho bà N1 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính) số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001.

Bị đơn bà N1 trình bày: Bà xác nhận vào ngày 21/12/2022 bà có vay của vợ chồng ông Đ, bà L số tiền 300.000.000 đồng, khi vay bà có viết và ký giấy mượn tiền, bà có giao cho ông Đ bà L 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính) để làm tin, thời hạn vay là 01 tháng. Trong quá trình vay bà đã trả cho vợ chồng ông Đ bà L được gần 100.000.000đồng lãi (Bằng phương thức chuyển khoản và tiền mặt). Nay vợ chồng ông Đ, bà L khởi kiện bà như trên thì bà đồng ý có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Đ, bà L số tiền 300.000.000 đồng nợ gốc theo từng kỳ. Thời gian trả nợ theo từng kỳ cụ thể như sau: Ngày 15/10/2025 trả 50.000.000đồng; Ngày 15/11/2025 trả 50.000.000đồng; Ngày 15/12/2025 trả 50.000.000đồng; Ngày 15/01/2026 trả 50.000.000đồng; ngày 15/02/2026 trả 50.000.000đồng; Ngày 15/3/2026 trả 50.000.000đồng. Bà yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L có trách nhiệm trả cho bà 0 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính) số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001.

Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nhận chứng cứ và hoà giải. Tại phiên hòa giải ngày 15/9/2025, bà L và bà N1 thống nhất thoả thuận trả nợ tiền gốc, không tính lãi suất. Toà án đã lập biên bản hoà giải thành với các nội dung sau:

- Bà Trần Thị N đồng ý có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L số tiền 300.000.000 đồng nợ gốc. Thời gian trả nợ theo từng kỳ cụ thể:

Ngày 15/10/2025 trả 50.000.000đồng; Ngày 15/11/2025 trả 50.000.000 đồng; Ngày 15/12/2025 trả 50.000.000 đồng; Ngày 15/01/2026 trả 50.000.000 đồng; ngày 15/02/2026 trả 50.000.000 đồng; Ngày 15/3/2026 trả 50.000.000 đồng.

- Vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị N 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính) số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001.

Tuy nhiên đến ngày 18/9/2025 bị đơn bà N có đơn thay đổi ý kiến hoà giải không đồng ý với nội dung thỏa thuận.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 95/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L về việc “Tranh chấp Hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Trần Thị N.
  2. Buộc bị đơn bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L số tiền 300.000.000 đồng nợ gốc và 48.850.000 đồng tiền lãi suất. Tổng cộng 348.850.000 đồng.
  3. Buộc nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L có trách nhiệm trả cho bị đơn bà Trần Thị N 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 06/10/2025, bị đơn bà Trần Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị đơn bà Trần Thị N thay đổi nội dung kháng cáo, đồng ý trả cho bà Tạ Thị Thanh L số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng, đề nghị bà L không tính lãi suất theo như án sơ thẩm nữa; bà sẽ giao cho bà L số tiền 300.000.000 đồng ngay tại phiên tòa; đồng thời đề nghị bà Tạ Thị Thanh L cũng giao trả ngay cho bà G chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001, điều chỉnh thay đổi tên bà Trần Thị N tại phiên tòa.

Nguyên đơn bà Tạ Thị Thanh L thống nhất với đề nghị của bà Trần Thị N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm và phiên tòa với là đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của bà Tạ Thị Thanh L và bà Trần Thị N tại phiên tòa phúc thẩm theo nội dung:

Bà Trần Thị N đồng ý trả cho vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L số tiền 300.000.000 đồng (Đã thực hiện xong)

Bà Tạ Thị Thanh L có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị N Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001, điều chỉnh thay đổi tên bà Trần Thị N (Đã thực hiện xong)

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quy định của pháp luật, đơn kháng cáo của bà Trần Thị N trong thời hạn luật định và thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị N thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị đơn bà Trần Thị N một lần nữa xác nhận ngày 21/12/2022 bà có vay vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L số tiền 300.000.000 đồng và giao cho bà Tạ Thị Thanh L Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001, điều chỉnh thay đổi tên bà Trần Thị N để làm tin như bà L trình bày là đúng thực tế. Án sơ thẩm đã buộc bà trả cho vợ chồng ông Đ, bà L số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và lãi suất với số tiền 48.850.000 đồng; buộc bà L giao trả lại cho bà G chứng nhận là có căn cứ và đúng quy định.

Qua diễn biến tại phiên tòa, trên cơ sở giải thích của Hội đồng xét xử thì bà L đã đồng ý không tính lãi suất của số tiền vay 300.000.000 đồng đối với bà N; bà N đã trả cho bà L số tiền gốc 300.000.000 đồng này; bà L cũng đã trả lại cho bà N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhận. Xét việc thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử cần sửa bản án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận này của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm theo các nội dung đương sự đã tự thỏa thuận.

[3] Về án phí:

Do bà Trần Thị N là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12. Vì vậy, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án thì cần miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho bà N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Thị N. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 95/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lâm Đồng.

Tuyên xử:

Công nhận sự thỏa thuận của bà Tạ Thị Thanh L và bà Trần Thị N tại phiên tòa phúc thẩm.

  1. Bà Trần Thị N có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L số tiền 300.000.000 đồng nợ gốc (Đã thực hiện xong)
  2. Bà Tạ Thị Thanh L có nghĩa vụ giao trả ngay cho bà Trần Thị N 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản chính) số T 340468 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/11/2001, điều chỉnh thay đổi tên bà Trần Thị N tại phiên tòa. (Đã thực hiện xong)
  3. Về án phí:
    1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho bị đơn bà Trần Thị N. Hoàn trả cho bà Trần Thị N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003918 ngày 06-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
    2. Vợ chồng ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Đạo Đ, bà Tạ Thị Thanh L số tiền 8.850.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000836 ngày 12/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng cũ nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Lâm Đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND khu vực 2, Lâm Đồng (01);
  • - Phòng GĐ, TT, KT &THA (01)
  • - Phòng THADS khu vực 2, Lâm Đồng (01);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu, hồ sơ vụ án (03).

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2026/DS-PT ngày 19/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 35/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger