|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 12 - 2025 V/v Tranh chấp HNGĐ- Ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đình Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thiết, Chủ tịch Công đoàn Tân Lạc
Bà Bùi Thị Liên, Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng, Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Linh Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 279/2025/TLST- HNGĐ ngày 31/10/2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 07/12/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị BÙI THỊ H, sinh năm 1983. Trú tại: Khu BR, thị trấn MĐ, huyện TL, tỉnh Hòa Bình (Nay là khu BR, xã TL, tỉnh Phú Thọ).
2. Bị đơn: Anh BÙI VĂN L, sinh năm 1982. Trú tại: Khu BR, thị trấn MĐ, huyện TL, tỉnh Hòa Bình (Nay là khu BR, xã TL, tỉnh Phú Thọ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, được nộp tiền tạm ứng án phí ngày 31/10/2025, bản tự khai và quá trình tố tụng tiếp theo, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn L kết hôn ngày 21/11/2003 trên cơ sở do 02 ông bố mai mối nên không hoàn toàn tự nguyện; không có thời gian tìm hiểu nhưng có tổ chức cưới hỏi theo phong tục; có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã MĐ, huyện TL, tỉnh Hoà Bình (Nay là xã TL, tỉnh Phú Thọ). Sau kết hôn vợ chồng chỉ ở được với bố mẹ chồng được 05 tháng rồi vì mâu thuẫn nên bố mẹ chồng tạo điều kiện cho ra ở riêng tại xóm B, xã MĐ, huyện TL, tỉnh Hoà Bình (Nay là xã TL, tỉnh Phú Thọ). Thời kỳ đầu khi ra ở riêng cuộc sống vợ chồng bình thường được khoảng 04 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp; anh L thường xuyên uống rượu say, không làm chủ được bản thân nên chửi bới và liên tục có hành vi bạo lực với vợ con; Chị cố nhẫn nhịn chịu đựng thì anh L càng bất cần không quan tâm chăm lo cho vợ con; không chịu làm ăn, không có kinh tế để chăm lo cho gia đình con cái; cả gia đình chỉ trông chờ vào công sức và thành quả lao động của chị; Chị cũng đã khuyên giải rất nhiều nhưng không được: anh L vẫn không thay đổi; anh L sẵn sàng vì không vừa ý việc gì là cầm dao dọa xiên; Quá thất vọng về chồng, nhưng chị vẫn chăm sóc cho chồng cũng như các con, làm đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm của người con trong gia đình của người vợ, người mẹ chờ đợi hy vọng anh L sẽ sửa đổi, thay tâm đổi tính để vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng anh L không có chuyển biến; Chị đã bỏ đi làm và không về nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2025; anh L liên tục vào nhà ngoại tìm và đe dọa nên chị rất sợ cho tính mạng của bản thân. Nhận thấy: Có cố kéo dài thì cũng không còn cơ hội có một cuộc sống hạnh phúc; Tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị làm đơn xin ly anh Bùi Văn L để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh Bùi Văn L có 02 con chung là: Bùi KL1, sinh 02/9/2004 và Bùi KL2, sinh 27/4/2011. Khi ly hôn, cháu L1 đã trưởng thành và có gia đình riêng nên vấn đề nuôi dưỡng giáo dục con không đặt ra. Còn cháu L2 đầu tiên chị xác định để cho anh L được nuôi dưỡng giáo dục và việc chu cấp cho cháu chị sẽ tự chu cấp và lo cho cháu bằng việc chuyển khoản thẳng cho cháu qua anh trai chị, sau này cháu đủ tuổi có tài khoản riêng, chị sẽ chuyển cho cháu ăn học. Tuy nhiên về sau khi hỏi nguyện vọng của con chị lại xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu L2 và chưa yêu cầu anh L đóng góp nuôi con chung.
Về tài sản chung: Có tài sản chung nhưng chị không đề nghị Tòa giải quyết. Công nợ chung: Không có. Về án phí: Chị H xin tự nguyện chịu.
Bị đơn anh Bùi Văn L đầu tiên báo gọi thì không đến nhưng sau đã đến Tòa thể hiện quan điểm và thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh cho đó là việc bình thường của các gia đình, không có gì lớn: anh vẫn còn tình cảm vợ chồng, không muốn gia đình tan vỡ nên chị H có làm đơn xin ly hôn anh cũng không đồng ý mà xin được đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Về con chung thì đúng như chị H trình bày: Vợ chồng có hai con: Cháu L1 đã trưởng thành, có gia đình riêng nhưng lại đang vướng vào tệ nạn và anh cho là nguyên nhân do chị H không quan tâm đến gia đình, con cái; còn cháu L2 hiện đang đi học anh rất thương con, chị H bỏ con lại cho anh rồi lại tha lôi đi nơi khác học khiến anh phải tìm về; Chị H bỏ đi làm nay lại muốn nuôi con anh không đồng ý và nếu ly hôn anh xin được nuôi con và cũng không yêu cầu chị H đóng góp nuôi con chung. Về tài sản chung - công nợ chung: Không có.
3. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đưa ra quan điểm: Quá trình giải quyết: Thẩm phán, hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Bùi Văn L. Về con chung: Giao cháu Bùi KL2 cho chị Bùi Thị H nuôi dưỡng, giáo dục.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tòa án giải quyết là tranh chấp về ly hôn. Thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ theo quy định tại Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2003 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, anh L có hành vi bạo lực, không quan tâm gia đình. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 02/2025. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, việc chấp nhận yêu cầu ly hôn là cần thiết.
[3] Về con chung: Cháu Bùi KL1 đã trưởng thành. Cháu Bùi KL2 là con gái, đang tuổi lớn và có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó, cần giao cháu L2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về tài sản chung – công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Bùi Thị H tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Điều 81, 82, 83; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn L.
- [2] - Về con chung: Giao cháu Bùi KL2, sinh 27/4/2011 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H chưa yêu cầu anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
- [3] - Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
- [4] - Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0004666 ngày 31/10/2025.
- [5] - Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Đình Dũng |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ về tranh chấp hngđ- ly hôn
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HNGĐ- Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình chị Bùi Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn L
