Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HSST

Ngày: 29/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Anh Xuân.

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông Ngô Sỹ Lượng.

    • Ông Diêu Anh Tuấn.

  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại Hội trường cơ sở cai nghiện ma túy số 2, phân khu 1 thuộc Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N (Địa chỉ: xã N, tỉnh Nghệ An) xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Quang T - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/10/1987; Nơi cư trú: khối L, phường T, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bùi Quang V (đã chết); con bà: Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1957; Vợ: Trương Thị T2 – sinh năm 1988 (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số 03/2020/HSST ngày 19/02/2020 của Toà án nhân dân Thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 14/11/2022 của UBND xã N, huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền là 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  • - Người bị hại: Anh Trương Quốc V1 – sinh năm 1995. (Vắng mặt).

    Trú tại: xóm C, xã N, tỉnh Nghệ An.

  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    Bà Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1957. (Có mặt).

    Trú tại: khối L, phường T, tỉnh Nghệ An.

  • - Người làm chứng:

    Anh Trương Văn C – sinh năm 2003. (Vắng mặt).

    Trú tại: xóm C, xã N, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quang T là đối tượng nghiện ma tuý nên vào khoảng 07 giờ ngày 05/10/2025, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xám đen, biển kiểm soát 37G1-023.39 đi từ phường T, tỉnh Nghệ An đến địa bàn xã N, tỉnh Nghệ An để tìm nhà dân nào sơ hở thì thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi vòng quanh khu vực xóm C, xã N thì phát hiện nhà anh Trương Quốc V1 không có người trông coi. T điều khiển xe mô tô đi qua đi lại thăm dò một lúc rồi dừng lại đỗ xe mô tô nép sát tại vị trí gần cổng sau của bờ rào phía sau nhà anh V1 để quan sát. T phát hiện thấy một chiếc máy cắt cỏ, nhãn hiệu Husqvarna Professional 541, hộp máy màu cam đen để tại vị trí chuồng bò nhà anh V1. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T thấy không có ai ở nhà và trên đường không có người qua lại nên đã mở cánh cổng sau nhà anh V1 rồi đi đến chuồng bò để lấy trộm chiếc máy cắt cỏ. T dùng hai tay xách chiếc máy cắt cỏ khỏi vị trí chuồng bò rồi đi về phía cổng sau để tẩu thoát. Khi vừa di chuyển được khoảng 05 mét thì phát hiện anh Trương Quốc V1 đang đi vào nhà nên T để lại máy cắt cỏ vừa lấy trộm được ở sân rồi trèo qua hàng rào lên xe mô tô tẩu thoát. Lúc này anh V1 hô hoán và truy đuổi thì thấy lực lượng Công an xã N đang đi tuần tra kiểm soát nên lực lượng Công an xã truy bắt và khống chế Bùi Quang T. Bùi Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình và Công an xã N đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ tang vật là một chiếc máy cắt cỏ, nhãn hiệu Husqvarna Professional 541, hộp máy màu cam đen và một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xám đen, biển kiểm soát 37G1-023.39.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã N, tỉnh Nghệ An kết luận: Chiếc máy cắt cỏ, nhãn hiệu Husqvarna Professional 541, hộp máy màu cam đen, Có giá trị trên thị trường tại thời điểm tháng 10 năm 2025 là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSKV8 ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Nghệ An đã truy tố bị cáo Bùi Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1 điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Quang T từ 06 đến 08 tháng tù; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; về vật chứng đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét; Đối với xe máy bị cáo dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản là tài sản của bà Nguyễn Thị T1 (mẹ bị cáo), bị cáo dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản bà T1 không biết nên đề nghị trả lại cho bà T1. Đối với biển kiểm soát 37G1-023.39 (gắn trên xe) là không phải biển kiểm soát xe bà T1 nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm; về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bị hại có bản khai trình bày: Vào sáng ngày 05/10/2025 lúc tôi đi ăn sáng về thì thấy bị cáo T đang từ chuồng bò nhà tôi đi ra có cầm theo một máy cắt cỏ của tôi để ở chuồng bò, khi phát hiện thấy tôi thì bị cáo bỏ máy cắt cỏ xuống và chạy trèo bở rào ra xe thì tôi tri hô có trộm và theo đuổi. Cùng lúc đó tổ tuần tra Công an xã N đang đi tuần tra qua thấy tôi hô hoán nên tổ công tác Công an xã đã cùng tôi bắt được Bùi Quang T, sau đó đưa về Công an xã N làm việc. Hiện nay chiếc máy cắt cỏ bị trộm đã được Công an trả lại cho tôi và tôi không có yêu cầu bồi thường dân sự gì.

Người liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xám đen do bà mua của cửa hàng anh C1 với giá 1.800.000 đồng và có giấy mua bán viết tay, bà mua về để đi lại và chở cháu đi học. Vào ngày 05/10/2025 con trai bà là T lấy chiếc xe đó làm phương tiện đi trộm cắp tài sản thì bà không biết và không nói gì với bà cả, khi công an bắt thì bà mới biết. Nay bà xin Toà án xem xét trả lại chiếc xe đó cho bà để đi lại và không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được về nhà chăm sóc con cái và mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định được vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 05/10/2025, Bùi Quang T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xám đen, biển kiểm soát 37G1-023.39 (Biển giả) đi từ phường T, tỉnh Nghệ An đến địa bàn xã N, tỉnh Nghệ An để tìm nhà nào có tài sản sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến 08 giờ cùng ngày T đi đến xóm C, xã N, tỉnh Nghệ An thì phát hiện nhà anh Trương Quốc V1 không có ai ở nhà, xung quanh vắng người đi lại nên T quan sát thấy trên chuồng bò nhà anh V1 có để một máy cắt cỏ, nhãn hiệu Husqvarna Professional 541 trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), nên T đã lén lút vào lấy trộm chiếc máy cắt cỏ đưa bán lấy tiền tiêu sài, khi lấy máy cắt cỏ đi ra được khoảng 5 mét thì phát hiện anh V1 về nhà nên T vứt máy cắt cỏ xuống và bỏ chạy thì bị anh V1 phát hiện và kết hợp với công an xã N bắt quả tang bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Bùi Quang T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, i, h khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do muốn có tiền mua ma tuý chơi bời nên đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung. Xét thấy bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý, có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để cải tạo bị cáo thành người công dân tốt mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và xử phạt bị cáo ở mức khung hình phạt do Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp.

Về phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về vật chứng: Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xám đen là xe của bà Nguyễn Thị T1 mẹ bị cáo, khi bị cáo đưa xe đi trộm cắp thì bị cáo không nói với bà T1 và bà T1 cũng không biết bị cáo dùng xe máy đi trộm cắp tài sản nên trả lại cho bà T1 chiếc xe máy trên. Đối với biển kiểm soát 37G1-023.39 là không phải biển số xe của bà T1 nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với máy cắt cỏ bị mất trộm thì cơ quan Công an đã trả lại cho anh V1.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và điều 38 - Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang T 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 05/10/2025.

  • - Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 một chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xám đen. Tịch thu tiêu huỷ một biển kiểm soát xe máy 37G1-023.39 (Chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/12/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Nghệ An).

  • - Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Quang T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người bị hại, Người liên quan;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND khu vực 8;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Thông báo cho UBND cấp xã, phường nơi b/c cư bị cáo cư trú được biết;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Anh Xuân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Sỹ Lương

Diêu Anh Tuấn

Lương Anh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HSST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 34/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger