Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST

Ngày 30 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lò Văn Khẹt
    • Ông Hoàng Ngọc Hùng
  • Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên tòa:

  • Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST - HS ngày 03 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Mùa A T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 07 tháng 5 năm 1992 tại xã N, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản G, xã N, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Mùa A L (sinh năm 1962) và con bà Giàng Thị B (sinh năm 1967); bị cáo có vợ là Thào Thị D (đã ly hôn) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sin năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 11/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng (chưa được xóa tiền sự). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 07/8/2025, tổ công tác Công an xã N, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ phòng, chống ma túy tại khu vực bản G, xã N, tỉnh Sơn La đã phát hiện bắt quả tang Mùa A T, sinh năm 1992, trú tại bản Giạng Phổng, xã N, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa các viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng, trên mỗi viên nén đều có ký hiệu WY; 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa cục bột màu trắng, T khai là ma túy Hồng phiến và H, cất giữ để sử dụng.

Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Mùa A T nhưng không thu giữ gì thêm.

Ngày 07/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Mùa A T, kết quả: Các viên nén đồng dạng màu hồng chứa trong túi nilon màu đen có số lượng là 158 viên với tổng khối lượng 15,79 gam, trích lấy 04 viên có khối lượng 0,39 gam gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1, 154 viên còn lại có tổng khối lượng 15,40 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu T1T; Chất cục bột màu trắng trong túi nilon màu trắng có tổng khối lượng 3,10 gam, trích lấy 0,49 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T2, còn lại 2,61 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu T2T.

Tại Kết luận giám định số: 958/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: " Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam; Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 3,10 gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và 15,79 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định./.".

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mùa A T khai nhận: Mùa A T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2019. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 07/8/2025, Mùa A T đi bộ từ nhà ở bản G, xã N, tỉnh Sơn La đến khu vực cổng chào bản Giạng Phổng, xã N thì gặp một người nam giới, khoảng 30 tuổi, dáng người thấp (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) và hỏi mua được của người nam giới trên 01 túi nilon màu đen bên trong chứa 158 viên nén Methamphetamine và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine với số tiền 1.500.000đ. Sau khi mua ma túy xong, T mang số ma tuý vừa mua về cất giấu tại nhà, với mục đích để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T bị tổ công tác kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ.

Ngày 07/8/2025, Công an xã N phối hợp với Trung tâm y tế tiến hành kiểm tra ma túy đối với Mùa A T bằng hình thức test, kết quả: Âm tính (-) với chất ma túy.

Thực hiện điều tra xác minh đối với người nam giới bán trái phép chất ma túy cho Mùa A T nhưng không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 34/CT-VKS-KV1 ngày 03/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La truy tố Mùa A T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Mùa A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Mùa A T từ 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù đến 9 (chín) năm tù giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 15,40 gam Methamphetamine có ký hiệu là T1T, 2,61 gam Heroine, 01 vỏ túi nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 07/8/2025, Mùa A T đã có hành vi cất giữ trái phép 15,79 gam Methamphetamine và 3,10 gam Heroine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/8/2025 tại bản Giạng Phổng, xã N, tỉnh Sơn La đối với Mùa A T cùng vật chứng thu giữ là 01 túi nilon màu đen bên trong chứa các viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng; 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng, T khai là ma túy Heroine và Hồng phiến cất giữ để sử dụng; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 958/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh S; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Đèo Văn M, sinh năm 1991, trú tại bản Mường Chiến, xã N, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mùa A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

  1. [3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Mùa A T phạm tội tàng trữ trái phép hai chất ma túy là 15,79 gam Methamphetamine và 3,10 gam Heroine, căn cứ theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì hai chất ma túy thu giữ của Mùa A T có tổng khối lượng là 18,89 gam, vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm và thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

  1. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
    • [4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    • [4.2] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng đi cai nghiện ma túy tại trại cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học, mà tiếp tục tàng trữ để sử dụng chất ma túy.
  2. [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo làm công việc trồng trọt theo mùa vụ, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. [6] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
  4. [8] Về nguồn gốc số ma túy 15,79 gam Methamphetamine và 3,10 gam Heroine: Bị cáo khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 07/8/2025 tại khu vực cổng chào bản Giạng Phổng, xã N, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ khác, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.
  5. [9] Về các vấn đề khác: Bị cáo có 01 tiền sự (cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc), tuy nhiên tại kết quả Test chất ma túy, trong cơ thể của bị cáo không có chất ma túy, do đó, không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 56a của Bộ luật Hình sự.
  6. [10] Vật chứng của vụ án: Đối với 15,40 gam Methamphetamine ký hiệu T1T và 2,61 gam Heroine ký hiệu T2T hiện đang lưu kho vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ túi nilon màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.
  7. [11] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định, do đó, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Mùa A T phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Mùa A T 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/8/2025).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 15,40 gam Methamphetamine ký hiệu T1T; 2,61 gam Heroine ký hiệu T2T; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu đen (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 033627 của Công an tỉnh S).

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/12/2025 giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Mùa A T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Mùa A T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/12/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 - Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Văn Khẹt

Hoàng Ngọc Hùng

Lò Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 33/2026/HS-ST ngày 30/12/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger