TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-ST Ngày 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh – Bà Nguyễn Thị Minh Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thái Quang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 Toà án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Trọng V; tên gọi khác: không; sinh ngày 31 tháng 10 năm 1977 tại tỉnh Lào Cai; số Căn cước: 015077008926, do Bộ C1 cấp ngày 20-06-2025; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Phan Trọng T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị S (đã chết); vợ con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01. Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2022/HSST ngày 26/7/2022 của Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt Phan Trọng V 02 năm 06 tháng từ về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 31/7/2025 V chấp hành xong hình phạt trở về địa phương (chưa được xoá án tích);
* Nhân thân: Năm 2001 bị Toà án nhân dân thị xã Yên Bái xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 65 ngày 15/8/2001); Năm 2003 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (bản án số 53 ngày 19/8/2003); Năm 2007 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý” (bản án số 56 ngày 28/6/2007); Năm 2010 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” (bản án số 94 ngày 29/9/2010);
Năm 2017 bị Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” (bản án số 37 ngày 31/8/2017). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2019 được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt ngày 10 tháng 7 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Trọng V: Ông Trần Ngọc H – Luật sư, Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh L.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phan Trọng Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; có mặt.
+ Anh Đặng Xuân D, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn V, phường V, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
+ Anh Phan Trọng M, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2025, Phan Trọng V quen một người nam giới tên là H1 (V không biết đầy đủ họ tên và địa chỉ) tại khu vực cầu B, tỉnh Lào Cai và cho nhau số điện thoại để liên lạc. Sau đó, V đã mua ma tuý của H1 3 – 4 lần về để sử dụng cho bản thân. Đến giữa tháng 6 năm 2025, H1 điện thoại vào số điện thoại 0345 657 299 của V hỏi có mua ma tuý không thì V đồng ý và hỏi mua 21.000.000 đồng tiền Heroine, 2.500.000 đồng tiền ma tuý ngựa (hồng phiến) và 1.500.000 đồng tiền ma tuý đá, H1 đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực gầm cầu K cao tốc N - Lào Cai. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, V đi tacxi đến địa điểm đã hẹn gặp H1 ở ven đường gần cầu vượt km 121 Cao tốc N - Lào Cai, V đưa tiền cho H1 và được H1 chỉ vị trí cất dấu ma tuý tại rãnh thoát nước ven đường. V nhìn thấy 01 hộp bìa các tông có kích thước khoảng 10cm x 10cm x 07cm và cầm lấy gói ma tuý đi về nhà, còn H1 đi đâu thì V không biết. Khi về đến nhà, V mở hộp giấy ra xem thấy bên trong có 03 túi nilon màu trắng có khoá nẹp gồm 01 túi đựng ma tuý Heroine, 01 túi đựng ma tuý N, và 01 túi đựng ma tuý đá. Sau đó, V chia nhỏ các loại ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời. Đến ngày 04 tháng 7 năm 2025 V đang ở nhà thì Đặng Xuân D đến hỏi mua 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, V đồng ý nhưng do tài khoản không đủ tiền nên D xin nợ 10.000 đồng, D đã sử dụng chiếc điện thoại Samsung Galaxy A4 màu hồng bên trong lắp 01 thẻ sim 0337 051 180 chuyển vào tài khoản của Phan Trọng M (em trai V) số tiền 490.000 đồng, V đưa 01 gói Heroine cho D, sau đó D đi về nhà và đã sử dụng hết cho bản thân. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 10 tháng 7 năm 2025, Nguyễn Văn M1 điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 21B1 – 049.76 đến nhà V hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng nhưng do không đủ tiền nên M1 đưa cho V số tiền 186.000 đồng, nợ lại số tiền 14.000 đồng, V đồng ý và đưa cho M1 01 gói ma tuý được gói bằng giấy bạc, M1 cầm gói Heroine vừa mua được vào lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe môtô đi về khu vực đường L thuộc tổ dân phố N, phường Y. Tổ công tác của Công an phường Y, tỉnh Lào Cai đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường L thấy có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe của M1 để kiểm tra. Khi nhìn thấy tổ công tác, M1 làm rơi 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất bột mầu trắng từ lòng bàn tay phải xuống dưới lòng đường. Tổ công tác đã mời người chứng kiến kiểm tra gói giấy bạc rơi từ tay Nguyễn Văn M1, bên trong gói giấy bạc có chứa chất bột màu trắng là ma tuý loại Heroine do M1 mua của Phan Trọng V với giá 186.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, còn thu giữ của M1: 01 xe môtô biển kiểm soát 21 B1 – 049.76 và 01 đăng ký xe môtô; 01 điện thoại Itel màu đen, tiền Việt Nam 70.000 đồng.
Căn cứ vào lời khai và vật chứng thu giữ được của Nguyễn Văn M1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở, đồ vật của Phan Trọng V đã thu giữ:
- Tại túi quần đùi phía trước bên phải của Phan Trọng V:
- + 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ chứa 10 gói giấy bạc, bên trong đều có chứa chất bột nán màu trắng.
- + 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu trắng có chứa 03 túi nilon màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột nén màu trắng (01 túi chứa thêm 01 viên nén và 02 mảnh màu hồng).
- Thu giữ trong thùng nhựa màu đỏ đựng gạo trong bếp 01 lọ màu xanh, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ chứa chất bột nén màu trắng.
- Thu giữ 01 bộ quần áo rằn ri treo trên móc áo gần nhà vệ sinh sau phòng của Phan Trọng M (em trai Phan Trọng V) phát hiện trong túi quần bên trái có 01 hộp nhựa màu trắng, trên hộp có dòng chữ “DENTAL” bên trong chứa:
- + 01 túi nilom màu hồng và 04 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền xanh, bên trong 05 túi này đều chứa các viên nén hình tròn đỏ.
- + 01 túi nilon màu hồng và 02 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa các tinh thể màu trắng.
- - Tạm giữ: 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung, bên trong gắn thẻ sim.
- Tiền Việt Nam: 9.266.000 đồng (286.000 đồng trong túi quần Phan Trọng V đang mặc; 8.980.000 đồng ở dưới gối trong phòng ngủ).
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ 03 thẻ nhớ do Phan Trọng Đ (em trai Phan Trọng V giao nộp).
Tại biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L và Phòng K Công an tỉnh L ngày 10/7/2025 đã xác định số vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn M1; 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột nén màu trắng có khối lượng là 0,06 gam.
Tại biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L và Phòng K Công an tỉnh L ngày 12/7/2025 đã xác định số vật chứng thu giữ khi khám xét người và nơi ở của Phan Trọng V:
- 01 túi trắng có khoá kẹp viền màu đỏ bên trong có 10 gói giấy bạc trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất bột nén màu trắng (thu giữ trong túi quần đang mặc) có tổng khối lượng là 2,28 gam.
- 01 túi trắng có khoá kẹp viền màu trắng, bên trong có 03 túi nilon màu trắng đều chứa chất bột nén màu trắng (trong đó có 01 túi còn chứa thêm 01 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu hồng). Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 4,55 gam, tổng khối lượng các viên, mảnh màu hồng là 0,17 gam.
- 01 lọ nhựa màu xanh, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ, bên trong chứa chất bột nén màu trắng (thu giữ trong thùng đựng gạo) có khối lượng 21,19 gam.
- 01 hộp nhựa màu trắng, trên nắp hộp có dòng chữ DENTAL ( thu giữ trong túi quần dài đang treo trên móc), bên trong chứa:
- + 01 túi nilon màu hồng có khoá kẹp và 04 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền xanh, bên trong các túi đều chứa các viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 12,28 gam;
- + 01 túi nilon màu hồng có khoá kẹp và 02 túi nilon màu trắng có khoá kẹp viền màu đỏ bên trong mỗi túi đều chứa các tinh thể màu trắng có tổng khối lượng là 7,76 gam.
Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 28,02 gam, tổng khối lượng các viên nén, mảnh màu đỏ là 12,45 gam. Tổng khối lượng các tinh thể màu trắng là 7,76 gam.
Tại kết luận giám định về ma tuý số 250/KL-KTHS ngày 17/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn M1 có khối lượng là 0,06 gam ma tuý loại Heroine.
Tại kết luận giám định về ma tuý số 253/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Đối với vật chứng thu giữ của Phan Trọng V:
- M1: 2,28 gam; M2: 4,55 gam; M4: 21,19 gam (tổng số 28,02 gam) chất bột nén gửi đi giám định là ma tuý loại Heroine; M3: 0,17 gam; M5: 12,28 gam; M6: 7,76 gam (tổng 20,21gam) tinh thể mầu trắng và các viên nén, mảnh màu đỏ gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 43-CT-VKS- P1 ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố Phan Trọng V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện KSND khu vực 1, tỉnh Lào Cai thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Trọng V phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 6 Điều 251; điểm h, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phan Trọng V từ: 17 (mười bẩy) năm đến 18 (mười tám) năm tù.
Phạt bị cáo Phan Trọng V từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
* Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 27,72 gam (hai mươi bẩy phẩy bẩy mươi hai gam) Heroine và 19,91 gam (mười chín phẩy chín mươi mốt gam) Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh L phát hành.
- + 09 (chín) vỏ phong bì, hộp nhựa, các mảnh giấy bạc, giấy gói sau khi mở giám định
- + 01 bộ quần áo rằn ri đã qua sử dụng được niêm phong trong một hộp bìa các tông hình chữ nhật.
- + 05 que xét nghiệm ma tuý Phan Trọng M, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn N1, Đặng Xuân D, Phan Trong V được niêm phong trong 05 (năm) phong bì do Công an phường Y phát hành.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của Phan Trọng V:
- + 01 chiếc điện thoại đi động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, vỏ máy phía sau màu đen có chữ “SAMSUNG”, màn hình bị nứt vỡ, máy có số IMEI1: 358334900874109 lắp 02 thẻ sim số: 0345 657 299 và 0921 948 532 (được niêm phong trong phong bì do Công an phường Y phát hành).
- + Số tiền 676.000 đồng (Sáu trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của Đặng Xuân D:
- + 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A4 màu hồng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim 0337 051 180.
- Trả lại cho Phan Trọng V:
- + 01 chiếc điện thoại đi động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, vỏ máy phía sau màu xanh có chữ “SAMSUNG”, màn hình bị nứt vỡ, máy có số IMEI1: 358334900874109 lắp 01 thẻ sim số 0797 829 362 (được niêm phong trong phong bì do Công an phường Y phát hành).
- + Số tiền 8.590.000 đồng (Tám triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho Phan Trọng Đ: 03 (ba) thẻ nhớ trong đó 01 (một) thẻ nhớ ghi chữ “LEXAR”, 02 thẻ nhớ trên ghi chữ “HIKVISION”.
* Về án phí: Căn cứ Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phan Trọng V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Trọng V: Ông Trần Ngọc H – Luật sư, Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh L: Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản luận tội của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g, h khoản 2 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo: Phan Trọng V từ: 16 (mười sáu) năm 17 (mười bẩy) tù.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của của người tham gia tố tụng này trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng giữa tháng 6 năm 2025 Phan Trọng V mua các chất ma tuý Heroine và M2 mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 04/7/2025, V bán cho Đặng Xuân D 01 gói ma tuý Heroine (không xác định khối lượng) thu được số tiền 490.000 đồng. Ngày 10/7/2025 V tiếp tục bán 01 gói ma tuý Heroine có khối lượng 0,06 gam cho Nguyễn Văn M1 thu được số tiền 186.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nơi ở của Phan Trọng V 28,02 gam Heroine và 20,21 gam Methamphetamine. Tổng số lượng ma tuý Phan Trọng V mua mục đích sử dụng và bán kiếm lời là 48,29 gam Heroine và Methamphetamine. Hành vi mua bán trái phép 48,29 gam Heroine và Methamphetamine của Phan Trọng V đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố là có căn cứ.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
- - Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm các quy định của của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy, gây mất trật tự trị an và gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
- - Tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hành vi phạm tội và có 01 tiền án về tội nghiêm trọng chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và có bố đẻ là ông Phan Trọng T được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Nhân thân: Bị cáo Phan Trọng V có nhân xấu đã bị Toà án xử phạt 05 lần về các tội: Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Mua bán trái phép chất ma tuý; Đánh bạc vào các năm 2001, 2003, 2007, 2010, 2017 (đã được xoá án tích). Ngày 26/7/2022 bị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma tuý là chất Nhà nước cấm việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt dưới mọi hình thức, tuy nhiên vì mục đích kiếm lời và thoả mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bán ma tuý nhằm mục đích vụ lợi nên áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma tuý cho V. Theo lời khai của V, ngoài lần bán ma tuý vào giữa tháng 6 năm 2025 V còn mua ma tuý của người đàn ông này khoảng 3 đến 4 lần để sử dụng cho bản thân. Do V không biết đầy đủ tên, địa chỉ cũng như số điện thoại của người đàn ông tên H1 nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phan Trọng V do không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý nên Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh L ra quyết định xử phạt hành chính đối với Phan Trọng V là đúng quy định của pháp luật.
[8] Đối với Nguyễn Văn M1 là người mua 01 gói ma tuý Heroine có khối lượng 0,06 gam của Phan Trọng V mục đích để sử dụng cho bản thân. Do khối lượng ma tuý M1 tàng trữ không đủ khối lượng để xử lý hình sự nên Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn M1 là đúng quy định pháp luật.
[9] Đối với Đặng Xuân D là người mua 01 gói ma tuý Heroine của Phan Trọng V vào Ngày 04/7/2025 và đã sử dụng hết. Hành vi của Đặng Xuân D không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý nên Phòng Cảnh điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đặng Xuân D là đúng quy định pháp luật.
[10] Đối với Phan Trọng M là em trai của Phan Trọng V, ngày 04/7/2025 V cho số tài khoản của M để Đặng Xuân D chuyển khoản số tiền 490.000 đồng, sau đó M đã đưa số tiền này cho V. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ, M không trao đổi bàn bạc và không biết số tiền D chuyển khoản vào tài khoản của mình là tiền mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.
[11] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel và số tiền 70.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Văn M1 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho M1;
[12] Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 21B1 – 049.76 và 01 đăng ký xe mô tô tạm giữ của Nguyễn Văn M1, chiếc xe mô là Mạnh mượn của bà Mai Thị Thanh N2, bà N2 không biết M1 mượn xe môtô trên để sử dụng vào việc mua ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cùng giấy tờ xe cho bà N2 là đúng quy định của pháp luật.
[13] Về vật chứng của vụ án:
- - Đối với 28,08 gam (Hai mươi tám phẩy không tám gam) ma túy Heroine, Cơ quan giám định đã trích 0,36 (không phẩy ba mươi sáu gam) giám định còn lại 27,72 gam (Hai mươi bẩy phẩy bẩy mươi hai gam) Heroine và 20,21gam (Hai mươi phẩy hai mươi mốt gam) Methamphetamine, Cơ quan giám định đã trích 0,3 gam (Không phẩy ba gam) giám định, còn lại 19,91 gam (Mười chín phẩy chín mươi mốt gam) Methamphetamine cùng được niêm phong trong một phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 09 (chín) vỏ phong bì đã mở niêm phong; hộp nhựa, các túi nilon, các mảnh giấy bạc, giấy gói sau khi mở giám định không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 bộ quần áo rằn ri thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 05 que xét nghiệm chất ma tuý gồm: Que thử ma tuý nhanh của Phan Trọng M, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn N1, Đặng Xuân D, Phan Trọng V đều được niêm phong trong 05 (năm) phong bì do Công an phường Y phát hành không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu huỷ.
- + Đối với 01 chiếc điện thoại đi động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, vỏ máy phía sau màu đen có chữ “SAMSUNG”, màn hình bị nứt vỡ, máy có số IMEI1: 358334900874109 lắp 02 thẻ sim số: 0345 657 299 và 0921 948 532 Phan trọng Vinh sử dụng liên lạc mua bán ma tuý cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A4 màu hồng đã qua sử dụng tạm giữ của Đặng Xuân D liên quan đến hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo V nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 9.266.000 đồng thu giữ của Phan Trọng V trong đó có 676.000 đồng là tiền V thu được do bán ma tuý cho D và M1 đây là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền còn lại 8.590.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của V trả lại cho V nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với: 01 chiếc điện thoại đi động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, vỏ máy phía sau màu xanh có chữ “SAMSUNG”, màn hình bị nứt vỡ, máy có số IMEI1: 355036110246951 lắp 01 thẻ sim số 0797 829 362 không liên quan đến hành vi phạm tội của Phan Trọng V nên trả lại cho V.
- - Đối với 03 thẻ nhớ thu giữ của Phan Trọng Đ trong đó 01 thẻ nhớ ghi chữ “LEXAR”, 02 thẻ nhớ trên ghi chữ “HIKVISION” không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Phan Trọng V nên trả lại cho Đ.
[14] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[15] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo Phan Trọng V là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Trọng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo:
Phan Trọng V: 17 (mười bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 10 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) phạt bị cáo:
Phan Trọng V: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1 Tịch thu tiêu hủy:
- + 27,72 gam (hai mươi bẩy phẩy bẩy mươi hai gam) Heroine và 19,91 gam (mười chín phẩy chín mươi mốt gam) Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh L phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ vụ Phan Trọng V MBTPCMT tại tổ dân phố Y, phường V, tỉnh Lào Cai ngày 10/7/2025 (sau khi trích mẫu giám định)”. Mặt sau phong bì, các mép được dán kín, có họ tên, chữ ký của Nguyễn Đức P, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Hữu C, Phan Trọng V và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L.
- + 09 (chín) vỏ phong bì, hộp nhựa, các mảnh giấy bạc, giấy gói sau khi mở giám định
- + 01 bộ quần áo rằn ri đã qua sử dụng được niêm phong trong một hộp bìa các tông hình chữ nhật.
- + 05 que xét nghiệm ma tuý Phan Trọng M, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn N1, Đặng Xuân D, Phan Trong V được niêm phong trong 05 (năm) phong bì do Công an phường Y phát hành.
3.2 Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của Phan Trọng V:
- + 01 chiếc điện thoại đi động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, vỏ máy phía sau màu đen có chữ “SAMSUNG”, màn hình bị nứt vỡ, máy có số IMEI1: 358334900874109 lắp 02 thẻ sim số: 0345 657 299 và 0921 948 532 (được niêm phong trong phong bì do Công an phường Y phát hành).
- + Số tiền 676.000 đồng (Sáu trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước của Đặng Xuân D:
- + 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A4 màu hồng đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim 0337 051 180.
3.3 Trả lại cho:
- - Phan Trọng V:
- + 01 chiếc điện thoại đi động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, vỏ máy phía sau màu xanh có chữ “SAMSUNG”, màn hình bị nứt vỡ, máy có số IMEI1: 355036110246951 lắp 01 thẻ sim số 0797 829 362 (được niêm phong trong phong bì do Công an phường Y phát hành).
- + Số tiền 8.590.000 đồng (Tám triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Phan Trọng Đ: 03 (ba) thẻ nhớ trong đó 01 (một) thẻ nhớ ghi chữ “LEXAR”, 02 thẻ nhớ trên ghi chữ “HIKVISION”.
(Đặc điểm chi tiết thể hiện theo các biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-12-2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lào Cai)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Phan Trọng V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Phan Trọng V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Kim Tuyến |
Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Trọng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo: Phan Trọng V: 17 (mười bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 10 tháng 7 năm 2025. Căn cứ khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) phạt bị cáo: Phan Trọng V: 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
