|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 321/2025/HSST Ngày: 30/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đỗ Đắc Tiến
- 2. Ông Nguyễn Văn Sơn
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Hùng Cường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đỗ Tuấn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 339/2025/HSST ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị K; sinh ngày 17/3/1978; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Họ tên cha: Lê Văn N; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T; Họ tên chồng: Nguyễn Thế L, sinh năm 1978; Có 03 con, lớn sinh năm 2005, bé sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Công ty TNHH K1
Trụ sở: KCN P, phường C, quận B, Hà Nội nay là Tổ dân phố P, phường Đ, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Chị Trần Kiều Việt N1, sinh năm 1994 - Chức vụ: giám đốc
Địa chỉ: P, tòa S G, Số A Hồ T, phường P, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa- Đã có đơn đề nghị vắng mặt)
-Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị K: Ông Võ Ngọc D1- Luật sư- Công ty L1- Đoàn luật sư thành phố H
Địa chỉ: P, A, tập thể học viện Q, phường N, thành phố Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 45 phút ngày 09/6/2025, khi đang làm việc tại kho vật tư của Công ty TNHH K1, Lê Thị K quan sát thấy xung quanh không có người trông giữ nên đã bê 03 bao tải hàng gồm: 1680 chiếc vòng bi, ổ xoay được làm bằng thép không gỉ và 46 kg đai ốc bằng thép đã ren trong dùng cho bu lông có đường kính thân ngoài (6, 8, 10, 12, 14, 16) mm lên xe đẩy của công ty để đẩy ra ngoài. Sau đó, K mang những tài sản trộm cắp được đến kho phế liệu của Trần Thị N2 (Sinh năm 1965; Địa chỉ: TDP Đ, phường T, thành phố Hà Nội; Là nhân viên tạp vụ trong khu vực Công ty G) để bán cho N2. Tại đây, K và N2 tiến hành cân số tài sản nêu trên được 81 kg và thỏa thuận bản số tài sản này với đơn giá 6.500đồng/kg. Khuyên để lại tài sản tại kho phế liệu của N2 nhưng chưa nhận tiền thanh toán. Sau khi bị mất tài sản, qua camera an ninh tại kho của Công ty K1, chị Trần Kiều Việt N1 phát hiện sự việc và ngày 28/7/2025, chị N1 đến cơ quan Công an phường Đ trình báo sự việc (BL 49–59, 62 – 81).
Cơ quan Công an đã tạm giữ (BL 96):
- 01 bao tải vòng bi, ổ xoay được làm bằng thép không gỉ gồm: 1.680 chiếc (tài sản mới chưa qua sử dụng);
- 02 bao tải đai ốc bằng thép đã ren trong, dùng cho bu long có đường kính thân ngoài (6,8,10,12,14,16) mm (tài sản mới, chưa qua sử dụng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 620 ngày 05/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Hà Nội (BL 17 – 18), kết luận:
- Giá trị của 1.680 chiếc vòng bi, ổ xoay được làm bằng thép không gỉ (tài sản mới, chưa qua sử dụng) là 11.928.000 đồng.
- Giá trị của 46 kg Đại ốc bằng thép đã ren trong, dùng cho bu long có đường kính thân ngoài (6, 8, 10, 12, 14, 16) mm (tài sản mới, chưa qua sử dụng) là 727.398 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 12.655.398 đồng.
Đối với chị Trần Thị N2 – Người mua tài sản nêu trên: Quá trình điều tra xác định khi mua các vòng bi, ổ xoay, đai ốc nêu trên, chị N2 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý (BL 97-102).
Đối với vật chứng đã thu giữ là 01 bao tải vòng bi, ổ xoay được làm bằng thép không gỉ gồm: 1.680 chiếc và 02 bao tải đai ốc bằng thép đã ren trong, dùng cho bu long có đường kính thân ngoài (6, 8, 10, 12, 14, 16) mm (tài sản mới, chưa qua sử dụng), Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 14801 ngày 10/9/2025 trao trả các tài sản nêu trên cho chị N1 là chủ sở hữu hợp pháp. Chị N1 không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Cáo trạng số 110/CT-VKSND KV4 ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Hà Nội truy tố Lê Thị K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo pháp luật của bị hại - chị Trần Kiều Việt N1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xét.
Về xử lý vật chứng: không
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Hà Nội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn; ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chồng bị cáo đã bỏ nhà đi nhiều năm, bị cáo đang phải nuôi con ăn học, bản thân bị cáo sức khỏe yếu; trong vụ án này tài sản đã được thu hồi và trả cho người bị hại. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và áp dụng Điều 36 BLHS xem xét áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là cải tạo không giam giữ để bị cáo có điều kiện tiếp tục nuôi con nhỏ ăn học và sửa chữa sai lầm trở thành công dân tốt cho xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả phần tranh luận. Trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo; người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Thị K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người liên quan, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09/6/2025 tại nhà kho Công ty TNHH K1 tại TDP P, Đ, Hà Nội, Lê Thị K là công nhân dọn dẹp kho đã có hành vi trộm cắp 1680 chiếc vòng bi, ổ xoay được làm bằng thép không gỉ, trị giá 11.928.000 đồng và 46 kg đai ốc bằng thép đã ren trong dùng cho bu lông có đường kính thân ngoài (6, 8, 10, 12, 14, 16) mm, trị giá 727.398 đồng của Công ty TNHH K1 do bà Trần Kiều Việt N1 – là giám đốc, tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là: 12.655.398 đồng. Tang vật đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thị K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử phải có một mức án nghiêm mới đủ sức răn đe giáo dục và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ: xét thấy phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Tài sản đã được thu hồi và trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX thấy xử phạt bị cáo Lê Thị K hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung đồng thời để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục sửa chữa sai lầm để trở thành công dân tốt cho xã hội.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an phường Đ - TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Về dân sự: người bị hại không còn yêu cầu gì về dân sự nên không xét.
[5] Về vật chứng: không.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng.
+ Khoản 1 điều 173, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
+ Điều 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử phạt bị cáo Lê Thị K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về UBND phường xã H, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về dân sự: không giải quyết
4. Về xử lý vật chứng: không giải quyết.
5. Án phí, quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Thị Thảo |
Bản án số 321/2025/HSST ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 321/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
