Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32 /2026/ST-HNGĐ

Ngày 22/01/2026

“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Doãn Xuân; Ông La Văn Liệu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H sinh năm 1994 - CCCD 040194034971 cấp ngày 09/01/2022. Trú tại: Thôn 1/5, xã N, tỉnh N. Có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Cao Mạnh H - sinh năm 1985 – CCCD 040085014959, cấp ngày 13/6/2025. Trú tại: Thôn 1/5, xã N, tỉnh N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H kết hôn vào ngày 25/6/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện A, tỉnh N (nay là xã N, tỉnh N), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng nhau, mặc dù vợ chồng đã rất cố gắng hàn gắn tình cảm, gia đình cũng đã hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được. Chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh H từ tháng 8/2025 đến nay không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Mạnh H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là Cao Mạnh Tấn D - sinh ngày 15/04/2019, hiện tại con đang sinh sống cùng anh H và bà nội, do hiện nay chị H đang đi làm ăn và để không làm ảnh hưởng đến việc học tập của con nên chị H có nguyện vọng giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chị H không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.

Tại biên bản lấy lời khai bà Hồ Thị B, sinh năm 1958 – Trú tại Thôn 1/5, xã Nhân Hòa, tỉnh Nghệ An là mẹ đẻ của anh Cao Mạnh H cho biết. Anh H và chị H kết hôn với nhau vào năm 2018, sau khi kết hôn thì sinh sống tại gia đình bà B, vợ chồng anh H sống hạnh phúc một thời gian thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung, gia đình cũng đã nhiều lần hòa giải nhưng do vợ chồng chị H không biết yêu thương, tôn trọng nhau. Hiện tại chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh H đi làm ăn thỉnh thoảng mới về nhà, địa chỉ cụ thể thì bà B không biết, bà B đã nhận toàn bộ các văn bản tố tụng Tòa án đến tống đạt cho anh H và đã thông tin cho anh H biết việc chị H làm đơn xin ly hôn tại Tòa án. Ý kiến của anh H: Về tình cảm anh H nhất trí ly hôn; Về con chung: Anh H có nguyện vọng nuôi con chung là cháu Cao Mạnh Tấn D – sinh ngày 15/4/2019; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vợ chồng anh H không nợ tổ chức, cá nhân nào, anh H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Cao Mạnh H đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; Điều 207; Điều 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

  • + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu

khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Cao Mạnh H và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Cao Mạnh Tấn D, sinh ngày 15/4/2029 cho anh Cao Mạnh H trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị H và anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Thôn 1/5, xã Nhân Hòa, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu Vực 9 – tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H tại UBND xã N, tỉnh N cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị H và anh H sinh sống tại Thôn 1/5, xã Nhân Hòa, tỉnh Nghệ An, vợ chồng anh H cùng nhau đi làm ăn thỉnh thoảng mới về, hiện tại anh H không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh H không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng.

Tại biên bản lấy lời khai bà Hồ Thị B, sinh năm 1958 – Trú tại Thôn 1/5, xã N, tỉnh N là mẹ đẻ anh Cao Mạnh H cho biết. Anh H và chị H kết hôn với nhau vào năm 2018 và sinh sống tại gia đình bà B, vợ chồng anh H sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hiểu nhau, không có tiếng nói chung, gia đình cũng đã nhiều lần hòa giải nhưng do vợ chồng chị H không biết yêu thương, tôn trọng nhau. Hiện tại chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh H đi làm ăn thỉnh thoảng mới về nhà, còn địa chỉ cụ thể thì bà B không biết, bà B đã nhận toàn bộ các văn bản tố tụng Tòa án đến tống đạt cho anh H và đã thông tin cho anh H biết việc chị H làm đơn xin ly hôn tại Tòa án; Ý kiến của anh H: Về tình cảm anh H nhất trí ly hôn; Về con chung: Anh H có nguyện vọng nuôi con chung là cháu Cao Mạnh Tấn D – Sinh ngày 15/4/2019; về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết; Vợ chồng anh H không nợ tổ chức, cá nhân nào và anh H đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt theo quy định pháp luật.

Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a

khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Cao Mạnh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Cao Mạnh H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Cao Mạnh H không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét thấy chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H đăng ký kết hôn vào ngày 25/6/2018 tại UBND xã C, huyện A, tỉnh N (nay là xã N, tỉnh N), việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ tháng 8 năm 2025 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị H và anh H đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.

Tại phiên tòa anh Cao Mạnh H vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị H, anh H xẩy ra nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Cao Mạnh H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị H có 01 người con chung là cháu Cao Mạnh Tấn D - sinh ngày 15/04/2019. Hiện tại chị H đang đi làm ăn thỉnh thoảng mới về và để ổn định việc học tập của con nên chị H có nguyện vọng giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của chị H và anh H là chính đáng, cháu Đạt đang còn nhỏ và đang sinh sống cùng anh H, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng

thành. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H và chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Cao Mạnh H và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về con chung: Giao con chung Cao Mạnh Tấn D - sinh ngày 15/4/2019 cho anh Cao Mạnh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Nguyễn Thị H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Anh Cao Mạnh H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • - Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Cao Mạnh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0001369 ngày 15/10/2025.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND khu vực 9;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Nhân Hòa;
  • - Lưu hồ sơ –VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lữ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2026/ST-HNGĐ ngày 22/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 32/2026/ST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Cao Mạnh H và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger