Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ

Bản án số: 32/2025/HS-ST

Ngày: 23 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Sơn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Bá Khiên và bà Đinh Thị Thủy.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thuý Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

SÙNG A D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984 tại T - Sơn La. Căn cước công dân số: 014084007xxx. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: Bản T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A S và bà Thào Thị S1; bị cáo có vợ là Giàng Thị G và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2025, tạm giam từ ngày 17/8/2025. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Khà Y X, sinh năm 1980. Trú tại: xóm T, xã P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Người chứng kiến: ông Khà A L, sinh năm 1969. Trú tại: xóm H, xã P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 15 phút, ngày 08/8/2025, tại khu vực xóm T, xã P, tỉnh Phú Thọ, Sùng A D bị công an bắt quả tang đang tàng trữ trong túi quần bên phải Sùng A D đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Bị cáo Sùng A D khai đó là chất ma túy có được do sáng ngày 08/8/2025 bị cáo dùng xe môtô BKS 28H1-171.47 đi lên khu vực xóm T, xã P mua được từ một người phụ nữ M với giá 50.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Tang vật thu giữ được tại giai đoạn điều tra và quá trình xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ gồm toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Sùng A D; 01 xe môtô BKS 28H1-171.xx, nhãn hiệu Wave Honda RSX được xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Khà Y X. Các vật chứng nêu trên được hiện đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - Phú Thọ chờ xử lý.

Tại kết luận giám định số 1294/KL-KTHS, ngày 14/8/2025 của Phòng PC 09 - Công an tỉnh P kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng thu giữ từ bị cáo Sùng A D là H, khối lượng 0,20 (Không phẩy hai mươi) gam.

Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-KV16 ngày 21/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ đã truy tố bị cáo Sùng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân dạng, căn cước; đối với bà Khà Y X là chủ sở hữu phương tiện bị cáo dùng đi mua ma tuý, kết quả điều tra xác nhận bà X không biết việc bị cáo dùng xe đi mua ma tuý, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cáo trạng không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo. Xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 36 đến 38 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo do bị cáo là người không có điều kiện về kinh tế. Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu, tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Đối với chiếc xe môtô BKS 28H1-171.xx bị cáo dùng đi mua ma tuý thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Khà Y X và bà X không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại xe cho bà Khà Y X.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Khà Y X không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và có mong muốn nhận lại chiếc xe môtô BKS 28H1-171.xx.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì về nội dung cáo trạng phản ánh; không kêu oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên xác nhận là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng.
  2. [2] Về căn cứ xác định tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo: Ngày 08/8/2025, bị cáo Sùng A D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; đã để trong túi quần bên phải của mình đang mặc 0,20 gam ma túy, loại Heroine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh, điều khoản luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhận thức xã hội, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại nghiện chất ma túy, không từ bỏ được ma túy. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguyên nhân gây mất an ninh trật tự xã hội, gây ra các tệ nạn xã hội và là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết nhà nước cấm tàng trữ các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện để thoả mãn nhu cầu nghiện chất ma tuý của mình. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ; bị cáo không có trình độ học vấn; bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
  5. [5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  6. [6] Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 0,12g Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng P - Công an tỉnh P là chất ma túy, là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với xe môtô BKS 28H1-171.xx là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Khà Y X. Bà Khà Y X không biết việc bị cáo dùng xe vào việc đi mua chất ma tuý ngày 08/8/2025, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên xét cần trả lại cho bà Khà Y X.
  7. [7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 08/8/2025.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu, tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong của Phòng PC09 - Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,12g ma túy còn lại sau giám định.
    • Trả lại cho bà K Y Xở 01 xe môtô BKS 28H1-171.xx, nhãn hiệu Wave Honda RSX.
    • (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - Phú Thọ có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số 06/KV16 ngày 01/12/2025).
  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Sùng A D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 16 – Phú Thọ;
  • - Phòng PC10 – Công an Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Phòng THADS khu vực 16 – Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Cao Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sùng A D là người nghiện chất ma tuý, đã tàng trữ 0,20g Heroine để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger