|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI ________________ Bản án số: 31/2026/HNGĐ-ST Ngày 08/01/2026 V/v: tranh chấp Ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------------------------------------------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Bích Liên
- 2. Ông Nguyễn Hải Hà
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Thư ký Toà án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Mai Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 712/2025/TLST-HNGĐ ngày 10/11/2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 508/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 12/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 301/2025/QĐ-HPT ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trương Cẩm T, sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số D ngách C C, phường Ô, thành phố Hà Nội. (Chị T có mặt)
* Bị đơn: Anh Hà Nguyên L, sinh năm 1989; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số E ngõ A Đ, phường N, thành phố Hà Nội. (Anh Linh vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2025, bản tự khai và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – chị Trương Cẩm T trình bày như sau:
Chị và anh Hà Nguyên L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/12/2024 tại Ủy ban nhân dân phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại nhà bố mẹ chị tại địa chỉ số D ngách C C, phường Ô, thành phố Hà Nội.
Ngay sau khi cưới anh chị thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đỉnh điểm vào ngày 09/02/2025 chị và anh L cãi nhau, anh L có đánh chị khi đó chị mới sinh con được 07 ngày. Đến ngày 10/02/2025, anh L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ anh L tại địa chỉ số E ngõ A Đ, phường N, thành phố Hà Nội ở từ đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Kể từ ngày anh L về nhà bố mẹ anh L ở, anh L không liên lạc với chị và con. Bản thân chị đã nhiều lần nói chuyện với anh L và tạo điều kiện nhiều lần cho nhau cơ hội, cố gắng để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng do bất đồng về suy nghĩ, lối sống nên chị và anh L không thể hòa hợp. Hai bên gia đình cũng động viên, khuyên bảo nhưng vẫn không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của hai vợ chồng. Bản thân chị và anh L cũng không có phương án để vợ chồng đoàn tụ. Nay chị cảm thấy cuộc sống quá mệt mỏi, không thể cố gắng hơn được nữa. Chị xác nhận không còn tình cảm với anh L, khả năng đoàn tụ là không có nên đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung là cháu Hà Trương Nguyên K, sinh ngày 02/02/2025. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nhà ở chung (động sản và bất động sản): Chị và anh L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Chị và anh L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn: Chị xin tự nguyện chịu toàn bộ.
* Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn – anh Hà Nguyên L không đến Tòa án theo các giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra, việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo yêu cầu nộp văn bản ý kiến trình bày quan điểm, không đồng ý cho lấy lời khai và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn – chị Trương Cẩm T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Nguyên L vì tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân khoảng một năm nay và không thể hòa giải đoàn tụ. Chị xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Hà Trương Nguyên K, sinh ngày 02/02/2025; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Chị xác nhận anh chị không có tài sản, nhà đất và vay nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh L.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự; tiến hành phiên họp tiếp cận chứng cứ và hòa giải, xác minh và thu thập chứng cứ đúng quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Cẩm T đối với anh Hà Nguyên L; Về con chung: chị T xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Hà Trương Nguyên K, sinh ngày 02/02/2025. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, do con dưới 36 tháng tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con thì đề nghị HĐXX không xem xét; Về tài sản, nhà đất chung: chị T xác nhận anh chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về vay nợ: chị T xác nhận anh chị không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn – anh Hà Nguyên L có hộ khẩu thường trú và ở tại địa chỉ: Số E ngõ A Đ, phường N, thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn” là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn – anh Hà Nguyên L đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ mà vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Hà Nguyên L.
Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn - anh Hà Nguyên L không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3] Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:
Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Cẩm T và anh Hà Nguyên L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội vào ngày 05/12/2024, (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2024). Đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Trương Cẩm T xin ly hôn anh Hà Nguyên L vì cho rằng quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng tháng 2/2025 sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về tính cách, lối sống, quan điểm sống không phù hợp. Vợ chồng không thể nói chuyện, không thể hòa giải để tiếp tục chung sống. Anh chị đã sống ly thân từ khoảng một năm nay.
Về nguyên nhân mâu thuẫn, căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn, gia đình cho thấy: trong thời gian chung sống của chị T và anh L xảy ra phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã chủ động nói chuyện nhưng không hòa giải được. Vợ chồng đã ly thân, sống xa nhau, không còn chia sẻ về tâm tư và mọi vấn đề cuộc sống được với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Quá trình làm đơn xin ly hôn, Tòa án đã thông báo cho anh L đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vắng mặt, không đến tham gia, điều đó thể hiện anh L không thực sự thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ, cũng không đưa ra được biện pháp gì cải thiện tình cảm với chị T để hàn gắn quan hệ vợ chồng, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, nếu có tiếp tục chung sống thì cuộc sống anh chị cũng không hạnh phúc.
Xét thấy, quan hệ vợ chồng cần sự yêu thương, chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ và chồng như quy định theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có “nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc...”.
Tại phiên toà hôm nay, chị T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn vì tình cảm không còn, vợ chồng đã sống ly thân; anh L không đến tham dự phiên tòa và cho biết quan điểm. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Việc chị T xin ly hôn đơn phương là quyền của công dân nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh L là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Trương Cẩm T được ly hôn với anh Hà Nguyên L.
[4] Về con chung:
Chị T xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Hà Trương Nguyên K, sinh ngày 02/02/2025, Khi ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con chung không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Hà Trương Nguyên K còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, đang ở với chị T, từ khi sinh ra chỉ có chị T chăm sóc nuôi dưỡng cháu; bản thân chị T có công việc ổn định, có chỗ ở và có điều kiện chăm sóc con, không phụ thuộc vào anh L về kinh tế. Mặt khác, anh L cũng không đến Tòa án trình bày quan điểm về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xem xét việc chị L đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung mà không làm xáo trộn đến việc sinh hoạt của cháu Hà Trương Nguyên K, cũng như đảm bảo lợi ích và sự phát triển cho cháu. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Trương Nguyên K kể từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi cháu Nguyên K trưởng thành (tròn 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
[5] Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản):
Chị T trình bày anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung:
Chị T trình bày anh chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí:
Nguyên đơn - chị Trương Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm;
[8] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 51; 55; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Cẩm T đối với anh Hà Nguyên L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Cẩm T được ly hôn với anh Hà Nguyên L.
- Về con chung: Chị Trương Cẩm T trình bày chị và anh Hà Nguyên L có 01 con chung là cháu Hà Trương Nguyên K, sinh ngày 02/02/2025. Giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Trương Nguyên K kể từ tháng 01 năm 2026 cho đến khi cháu Nguyên K trưởng thành (tròn 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh L nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. - Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản):
Chị Trương Cẩm T trình bày chị và anh Hà Nguyên L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. - Về nợ chung:
Chị Trương Cẩm T trình bày chị và anh Hà Nguyên L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. - Về án phí:
Chị Trương Cẩm T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền chị T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0015505 ngày 07/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. - Quyền kháng cáo:
Chị Trương Cẩm T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Hà Nguyên L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: - VKSND Khu vực 1 – Hà Nội; - THA DS thành phố Hà Nội; - TAND TP. Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài Phương |
Bản án số 31/2026/HNGĐ-ST ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
