Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 29 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Trí Thiện và ông Võ Thái Quân.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Du Thiện E, sinh ngày 05/6/2001, căn cước công dân số 089210019739, tại xã P, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp H, xã P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H1; trình độ văn hoá: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Trần Du C, sinh năm 1979, bà Nguyễn Thị T (đã chết); Anh em ruột: 03 người, bị cáo là người thứ hai; Tiền án: không; tiền sự: Ngày 06/3/2025, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng (chưa thi hành quyết định); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2025 đến nay, tại Trại tạm giam số 1 - Phân trại tạm giam A (có mặt).

- Bị hại: Lê Văn Q, sinh năm 1979, nơi cư trú: ấp T, xã P, An Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Lê Văn D; Trần Thị Như Ý do bà Nguyễn Thị H là người giám hộ; Đào Thị Bích T1 do bà Đỗ Thị T2 là người giám hộ; Võ Thị Ngọc G do bà Phạm Thị Út E1 là người giám hộ; Nguyễn Quốc D1 do Nguyễn Văn Minh P là người giám hộ; Trần Công T3 do bà Nguyễn Thị Tuyết N là người giám hộ (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/3/2025, Trần Du Thiện E cùng Trần Thị Như Ý, Võ Thị Ngọc G và Đào Thị Bích T1 đi bộ đến trước tiệm rửa xe của Lê Văn D thuộc khu vực ấp T, xã P. Thấy xe ba gác (gồm 01 xe mô tô đầu kéo có gắn 01 cái thùng xe bằng sắt, có hai bánh, phía trên lợp ván) của ông Lê Văn Q đang dựng trong tiệm rửa xe nên nói với cả nhóm "Để tao vô lấy chiếc xe ba gác chạy cho đỡ mỏi chân" thì Như Ý, T1 và G nói “Thôi đi, lấy Công an bắt chết”, cả nhóm tiếp tục đi được khoảng 10 mét thì Thiện E quay lại và đi vào trong tiệm rửa xe. Lúc này, Như Ý, T1 và G đi theo Thiện Em. Trong lúc Thiện E vào lấy trộm xe, Như Ý kêu T1 và G đến hỗ trợ, T1 bước đến định hỗ trợ nhưng Thiện E đã dẫn xe ra đường. Sau đó, Thiện E điều khiển xe chở Như Ý, G và T1 chạy về hướng xã P. Khi đến đường bờ kênh (cách tuyến dân cư P - P khoảng 1,5 km), Thiện E tháo thùng xe ba gác để xuống mé ruộng rồi điều khiển xe mô tô đầu kéo chở Như Ý, G và T1 qua phà T đến khu vực xã C, tỉnh An Giang chơi. Sau đó quay về xã P, khi đến phà T (bờ Chợ M), Thiện E bỏ xe mô tô đầu kéo ở khu vực chờ phà, rồi cả nhóm qua phà Thuận G1 lên bờ P đi bộ về nhà.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG.TTHS ngày 26/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận: 01 xe ba gác (cấu tạo gồm 01 xe mô tô đầu kéo nhãn hiệu Sufat, biển số: 67K6-3553 và 01 thùng xe bằng sắt, có hai bánh, phía trên lợp ván, kích thước thùng xe 1,2 x 2,5 mét), đã qua sử dụng, trị giá 7.000.000 đồng.

Cáo trạng số 05/CT-VKSPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – An Giang, truy tố bị cáo Trần Du Thiện E về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã khai phù hợp với nội dung Cáo trạng, đã nhận lại giá trị tài sản bị trộm, không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Du Thiện E từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô đầu kéo nhãn hiệu Sufat, biển số: 67K6 - 3553 và 01 thùng xe bằng sắt, có hai bánh, phía trên lợp ván, kích thước thùng xe 1,2 x 2,5 mét cho ông Lê Văn Q nên không xem xét. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo không tranh luận gì, lời nói sau cùng chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Du Thiện E đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Do muốn sử dụng tài sản của người khác nên khoảng 01 giờ 30 phút ngày ngày 12/3/2025, tại khu vực ấp T, xã P, Trần Du Thiện E đã có hành vi lén lút lấy trộm của ông Lê Văn Q 01 xe ba gác (cấu tạo gồm 01 xe mô tô đầu kéo nhãn hiệu Sufat, biển số: 67K6-3553 và 01 thùng xe bằng sắt, có hai bánh, phía trên lợp ván, kích thước thùng xe 1,2 x 2,5 mét), đã qua sử dụng, trị giá 7.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, gây hoang mang, lo lắng cho người dân địa phương.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm do bị cáo thực hiện. Nhận thức được việc lấy trộm tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì muốn sử dụng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền sự bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - An Giang) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng (chưa thi hành quyết định), nên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nhưng xét bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về biện pháp tư pháp:

[6.1] Xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 xe mô tô đầu kéo nhãn hiệu Sufat, biển số: 67K6 - 3553 và 01 thùng xe bằng sắt, có hai bánh, phía trên lợp ván, kích thước thùng xe 1,2 x 2,5 mét cho ông Lê Văn Q nên không xem xét.

[6.2] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Du Thiện E phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Du Thiện E 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/10/2025).

Căn cứ Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Du Thiện E phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND khu vực 12 (1);
  • - CQTHAHS Công an tỉnh An Giang (2);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh An Giang (1);
  • - Bộ phận THA Toà án khu vực 12 (2);
  • - THADS tỉnh An Giang (2);
  • - Những người tham gia tố tụng (2);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Du Thiên E phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger