Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ – ST

Ngày 30 tháng 12 năm 2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Đại Phong và bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu;
  • Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Đình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Phú thọ tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 01/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2025/QÐST – HNGĐ ngày 11/12/2025.

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 2002 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Xóm C, xã T, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn G, sinh năm 2000 (vắng mặt);

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn: Bà Đinh Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/10/2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 23/11/2021, chị và anh Hoàng Văn G đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, nay là xã T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do hai bên bất đồng quan điểm sống. Đầu năm năm 2025, anh, chị đã ly thân, kể từ thời điểm đó chị và anh G chấm dứt mọi mối quan hệ. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ, cho chị ly hôn với anh G.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 01 (một) con chung là cháu: Hoàng Ngọc Q, sinh ngày 12/02/2022, hiện đang ở cùng anh G. Khi ly hôn chị đồng ý để anh G tiếp tục nuôi con chung, chị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Về phía bị đơn anh Hoàng Văn G: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh G không có mặt nên chưa có lời trình bày.

[3]. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/11/2025, ông Hoàng Văn C là bố đẻ của anh G trình bày: Anh G có hộ khẩu thường trú tại khu C, xã T (nay là khu C, xã T, tỉnh Phú Thọ). Hiện anh G ở cùng với bố mẹ đẻ, đang làm việc tại Vĩnh Phúc, nhưng gia đình không biết địa chỉ cụ thể, anh G vẫn liên lạc với gia đình qua điện thoại hoặc về thăm nhà. Gia đình đã nhận được các văn bản tống đạt của Tòa án, đã báo cho anh G, nhưng do bận công việc, anh G không thể có mặt theo yêu cầu của Tòa án.

Anh G và chị H đã ly thân từ đầu năm 2025, mâu thuẫn giữa vợ chồng gia đình hai bên nội ngoại đều biết. Tuy nhiên, cả hai gia đình đều tôn trọng ý kiến cá nhân của vợ chồng anh G, chị H. Trong trường hợp hai bên ly hôn, gia đình có nguyện vọng đề nghị Tòa án giao con chung cho anh G nuôi dưỡng.

[4]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ thu thập để xem xét giao con chung cho anh Hoàng Văn G nuôi dưỡng.

[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chị H và anh G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh G là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh G trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, buộc chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị H có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ cho chị ly hôn với anh G, căn cứ khoản 1, Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung ngày 25/6/2025 (dưới đây viết là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án nhưng cố ý vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 23/11/2021, chị Phạm Thị Ngọc H và anh Hoàng Văn G đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, nay là xã T, tỉnh Phú Thọ. Quan hệ hôn nhân giữa hai bên được xác lập là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn trình bày về việc vợ chồng tồn tại nhiều mâu thuẫn, hai bên đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Để làm rõ tình trạng hôn nhân của hai bên, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương nơi Nguyên đơn, Bị đơn cư trú, kết quả đã xác định: Hai bên đã ly thân, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau.

Theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 3, Điều 4 của Nghị Quyết số 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”;

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh G đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Ngọc Q, sinh ngày 12/02/2022. Khi ly hôn, chị H đồng ý để anh G tiếp tục nuôi con chung, chị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Đối với yêu cầu này của chị H Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo biên bản làm việc ngày 13/11/2025 tại UBND xã T, tỉnh Phú Thọ (bút lục 21) thì con chung của anh G, chị H đang sinh sống ổn định cùng anh G, anh G có đủ điều kiện về vật chất, tinh thần để chăm sóc cháu. Bên cạnh đó, nguyện vọng của gia đình anh G mong muốn cháu được ở với bố (bút lục số 23). Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu

về việc nuôi con của chị H là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H đề nghị không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Gia C1 ý vắng mặt nên không có quan điểm trình bày. Căn cứ vào quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự về phạm vi khởi kiện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về việc chị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Khi chị H và anh G, có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.

[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị H không yêu cầu, anh G vắng mặt tại Tòa án chưa có lời trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

[5]. Về án phí: Chị H là Nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh G có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng khoản 1, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Áp dụng khoản 1, Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 1, Điều 273 của BLTTDS năm 2015;
  • Áp dụng điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Hoàng Văn G.
  2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Ngọc Q, sinh ngày 12/02/2022 cho anh Hoàng Văn G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Q thành niên. Chị Phạm Thị Ngọc H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ngày 06/10/2025, chị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai số 0002838 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, nay được chuyển thành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh G có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
  6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh + VKSND khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh + THADS khu vực 7- Phú Thọ;
  • - UBND xã Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ – ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HNGĐ - ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger