Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/12/2025

“V/v không công nhận quan hệ

vợ chồng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang và bà Bùi Thị Thêm
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng – Thư ký Toà án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 290/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H – sinh năm 1969 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn B C, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Đào Ngọc P – sinh năm 1967 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn B C, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 11 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Đào Ngọc P tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 cho đến nay, nhưng không đăng ký kết theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống bà H và ông P thường xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 5/2022 thì tình cảm giữa bà H với ông P mâu thuẫn đến mức trầm trọng; xét thấy tình cảm giữa bà H với ông P thực sự không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục duy trì. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên bà H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, chấm dứt quan hệ vợ chồng với ông P theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, bà H và ông P sinh được 04 con chung: Đào Thị Tuyết T (sinh năm 1989); Đào Thị Út L (sinh năm 1991); Đào Công H1 (sinh năm 1993) và Đào Công L1 (sinh năm 1996). Hiện nay, các con chung của bà H và ông P đều đã đủ tuổi trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị H và ông Đào Ngọc P đã tự thoả thuận phân chia, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn: Ông Đào Ngọc P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đào Ngọc P và bà Trần Thị H tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 cho đến nay, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống với nhau hai người thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình và quan điểm trong cuộc sống của hai người không hợp nhau, đến tháng 5/2022 tình cảm giữa hai người không còn, nên ông P và bà H không sống chung với nhau như vợ chồng nữa. Nay bà H khởi kiện yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng với ông P thì ông P đồng ý; bởi vì ông P xét thấy tình cảm giữa ông P với bà H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung với nhau nữa.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, ông P và bà Hồng S được 04 con chung: Đào Thị Tuyết T (sinh năm 1989); Đào Thị Út L (sinh năm 1991); Đào Công H1 (sinh năm 1993) và Đào Công L1 (sinh năm 1996). Hiện nay, các con đều đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Đào Ngọc P và bà Trần Thị H đã tự thoả thuận phân chia, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên toà, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H với ông Đào Ngọc P.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại điện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tố tụng dân sự.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Đào Ngọc P tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 đến nay, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, hai bên đều trình bày mặc dù các bên đều có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng do nhận thức và hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế nên hai người không đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kết hôn. Như vậy, bà H2 và ông P đã không tuân thủ các quy định của Luật hôn nhân và gia đình về đăng ký kết hôn.

Khoản 1 Điều 14 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.

Khoản 2 Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này; ...”

Vì vậy, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các quy định của luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H với ông Đào Ngọc P.

[2.2] Về con chung: Các con chung của bà Trần Thị H và ông Đào Ngọc P hiện nay đều đã đủ tuổi trưởng thành; bà H và ông P không yêu cầu Toà án giải quyết; nên Hội đồng xé xử không đặt ra xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Trần Thị H và ông Đào Ngọc P đã tự thoả thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật số 85/2025QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 luật Hôn nhân gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị H với ông Đào Ngọc P.

2. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004868 ngày 25 tháng 11 năm 2025.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Khu vực 7 - Đắk Lắk;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng THADS Khu vực 7 - Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Bá Bảy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hồng - Đào Ngọc Phước; Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger