|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA Bản án số: 30/2026/HNGĐ–ST Ngày: 15–01–2026 V/v: Ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Đạt, bà Thào Thị Chứ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 16-10-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16-12-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05-01-2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2026/QĐST-HNGĐ ngày 09-01-2026; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lường Thị I, sinh ngày 12/4/1985. (Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản T, xã NL, tỉnh Sơn La. - Bị đơn: Anh Lường Văn H, sinh ngày 09/01/1979. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Bản T, xã NL, tỉnh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lường Thị I trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị I và anh Lường Văn H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 10/5/2004 tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện NL (nay là xã NL), tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng hiện tại đang sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị Lường Thị I xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lường Văn H.
Về con chung: Chị Lường Thị I và anh Lường Văn H có 01 con chung là cháu Lường Văn T, sinh ngày 29/7/2003 (đã trưởng thành và có khả năng lao động). Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lường Văn H: Tòa án đã tiến hành triệu tập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần cho bị đơn anh Lường Văn H để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Lường Văn H vẫn cố tình vắng mặt nên không có ý kiến về việc giải quyết tranh chấp ly hôn.
Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 26/11/2025 xác định: Chị Lường Thị I và anh Lường Văn H có kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là xã NL, tỉnh Sơn La). Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không bên nào ép buộc. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình nên hiện tại chị I, anh H đang sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được. Chị I, anh H có 01 con chung là Lường Văn T, sinh ngày 29/7/2003 (đã trưởng thành và có khả năng lao động).
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Lường Thị I có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị I giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị: Xử cho chị Lường Thị I được ly hôn với anh Lường Văn H. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lường Thị I yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lường Văn H có nơi trú tại Bản T, xã NL, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị I và anh Lường Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên là vợ chồng hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai người đã sống ly thân từ năm 2024. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị I.
[3] Về con chung: Cháu Lường Văn T đã trưởng thành và có khả năng lao động, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị I xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Anh H không có ý kiến. Do đó Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lường Thị I là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều luật liên quan của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết về án phí. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị I được ly hôn với anh Lường Văn H.
- Về con chung: Cháu Lường Văn T, sinh ngày 29/7/2003 đã trưởng thành. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lường Thị I.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tiến Dũng |
Bản án số 30/2026/HNGĐ–ST ngày 15/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA về ly hôn
- Số bản án: 30/2026/HNGĐ–ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị Lường Thị I và anh Lường Văn H
