Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/DS-PT

Ngày: 14-01-2026

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy.

Các Thẩm phán: Bà Mạc Thị Chiên

Bà Lê Thị Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 459/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST, ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 902/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L; sinh năm: 1969

    Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (Nay là ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ). Vắng mặt.

  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1960
    • 2.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1964

    Cùng địa chỉ: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. (Nay là Khu vực X, phường Đ, thành phố Cần Thơ)

    Đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn: Ông Bào Tấn Đ; sinh năm: 1966

    Địa chỉ: Số A, ấp X, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (Nay là số 122, ấp X, xã P, thành phố Cần Thơ). Có mặt.

  3. Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Văn T

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/10/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày: Bà L, ông T và bà H có mối quan hệ bạn bè thân thiết. Trước đây vợ chồng ông T, bà H có mở cơ sở nuôi trăn tại khu vực X, phường H, do thiếu vốn nên đầu năm 2017 vợ chồng ông T, bà H có vay tiền của nguyên đơn tổng số tiền là 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) để đầu tư, các lần nhận tiền vay cụ thể như sau:

  • Tháng 4/2017 vay tổng số tiền là 212.000.000 đồng
  • Tháng 4/2018 vay tổng số tiền là 300.000.000 đồng
  • Tháng 4/2019 vay tổng số tiền là 288.000.000 đồng

Việc vay tiền trên có ông Trần Trung N biết, do mối quan hệ thân thiết nên các lần vay tiền không có làm giấy tờ chỉ nói miệng và các bị đơn hứa khi nào bán trăn sẽ trả hết một lần, nhưng từ khi vay ông H, bà T không đóng lãi cũng không trả gốc cho nguyên đơn.

Do thấy thời gian đã lâu và nguyên đơn nhiều lần yêu cầu nhưng vợ chồng bị đơn không trả mà lại bỏ địa phương đi. Đến năm 2024 khi ông T và bà H về địa phương thì nguyên đơn yêu cầu cả hai làm giấy xác nhận nợ. Vào ngày 08/02/2024 ông T đọc cho con bà L là Trần Trung N viết tờ “Giấy thỏa thuận” được lập tại nhà ông T, sau khi viết xong thì nguyên đơn cùng ông T, bà H, ông N ký tên.

Theo tờ thoả thuận ông T, bà H thừa nhận có mượn tiền của nguyên đơn 800.000.000 đồng và đồng ý thoả thuận trả dần mỗi tháng trả 10.000.000 đồng thời hạn là 08 năm tính từ ngày 30/3/2024 đến 30/3/2032. Nếu trong thời gian 08 năm mà không trả hết số tiền trên thì ông T, bà H phải giao thửa đất tại khu vực X, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (Nay là khu vực X, phường Đ, thành phố Cần Thơ) cho nguyên đơn làm chủ sở hữu. Tuy nhiên từ thời điểm thoả thuận đến nay vợ chồng bị đơn vẫn không trả tiền cho nguyên đơn theo thoả thuận.

Nay nguyên đơn yêu cầu các bị đơn là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất.

Trong quá trình tố tụng đại diện theo uỷ quyền các bị đơn Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H là ông Bào Tấn Đ trình bày: Phía bị đơn không thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn. Trước đây do bà H bị bệnh nhiều, khi ra viện hoàn cảnh gia đình thiếu thốn. Trên đường về thăm nhà từ tỉnh Bình Dương về thành phố N, vợ chồng ông T, bà H có bàn bạc với nhau là gọi điện cho bà L để hỏi mượn số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), để phòng có tiền tái khám. Bà L là bà con bên xui gia của vợ chồng bị đơn nên hai bên cũng có quen biết, tuy nhiên trước đó hai bên chưa từng diễn ra việc vay tiền. Sau khi các bị đơn gọi điện thoại cho bà L hỏi mượn tiền thì bà L đồng ý và hẹn khi nào ông T, bà H về tới thành phố N thì vào quán cà phê nào đó thì gọi điện thoại cho bà L đến.

Khi về đến thành phố N vợ chồng bị đơn chạy đến quán cà phê Ngọc S gọi bà L đến. Lát sau thì bà L đế cùng với một thanh niên khoảng 30 tuổi, vợ chồng bị đơn trình bày hoàn cảnh với bà L và hỏi mượn đỡ 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) sau đó sẽ từ từ trả lại. Bà L đồng ý cho vợ chồng bị đơn mượn và lãi suất mỗi tháng là 5%/tháng. Tuy nhiên, bà L hẹn với vợ chồng bị đơn vào ngày 30/3/2024 mới có tiền, do chờ bà rút tiền từ ngân hàng mới có tiền đưa.

Sau đó bà L kêu người thanh niên mang giấy tờ ra cho vợ chồng bị đơn ký tên, lúc này là cuốn tập học sinh (tập trắng) không ghi nội dung như thoả thuận. Vợ chồng bị đơn thừa nhận chữ ký trong “Giấy thỏ thuận” (giấy thoả thuận) là chữ ký của vợ chồng bị đơn, tuy nhiên vợ chồng bị đơn ký là để vay 8.000.000 đồng và ký giấy trắng chứ không hề có nội dung vay 800.000.000 đồng như nguyên đơn cung cấp. Khi đó bà L kêu ký trước khi nào chuyển tiền bà L sẽ tự ghi nội dung vào mặt trước của tờ giấy, do thân thiết và bản thân đang cần vay tiền nên vợ chồng bị đơn ký theo lời bà L. Nay đối với yêu cầu trả số tiền 800.000.000 đồng của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý do vợ chồng không mượn số tiền trên.

Trong quá trình tố tụng đại diện theo uỷ quyền người làm chứng ông Trần Trung N trình bày: Ông Nghĩa là con ruột của nguyên đơn, giấy thoả thuận là do bị đơn là ông T đọc cho ông N viết tại nhà ông T, văn bản được viết vào ngày 28/02/2024 với nội dung là ông T và bà Hoàng M của bà L tổng số tiền 800.000.000 đồng và hứa mỗi tháng trả 10.000.000 đồng với thời hạn 08 năm. Nếu sau 08 năm ông T và bà H không trả số tiền trên thì sẽ giao thửa đất tại khu vực X, phường H cho bà L đứng tên, sau khi viết xong ông T, bà H, ông N và bà L cùng ký tên vào. Giấy thoả thuận được lập thành 02 bản nội dung giống nhau và mỗi bên giữ một bản. Về việc ông T, bà H mượn tiền của bà L bắt đầu từ tháng 4/2017 do sau nhiều lần không trả nên đến ngày 28/02/2024 mới làm giấy mượn nợ trên.

Tại Bản án sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh L. Buộc các bị đơn Nguyễn Văn T và Nguyễn Thi H1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 18/8/2025, bị đơn Nguyễn Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm.

Nội dung kháng cáo: Yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện ủy quyền của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm về tố tụng cũng như đánh giá chứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa toàn diện, cụ thể như sau:

Về tố tụng:

Căn cứ vào giấy thỏa thuận giữa các bên thì thời hạn bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là ngày 30/3/2023. Như vậy tính đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện là chưa đủ điều kiện để khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết vụ án là chưa đúng.

Về nội dung:

Căn cứ vào nội dung theo giấy thỏa thuận mà nguyên đơn cung cấp thì đây được xem là xác định công nợ chứ không phải là biên bản thỏa thuận; Ngoài ra, các bên cũng thỏa thuận nếu đến thời hạn mà bị đơn không trả tiền thì nguyên đơn có quyền lấy đất của bị đơn để trừ nợ chứ không phải là buộc bị đơn phải trả tiền. Đại diện ủy quyền của bị đơn khẳng định chỉ mượn của nguyên đơn 8.000.000đ, có ký vào người mượn nợ cho nguyên đơn nhưng vợ chồng ông T chưa nhận bất cứ khoản tiền nào từ bà L, mặt trước của giấy thỏa thuận là do phía bà L tự viết, ông T và bà H1 không am hiểu pháp luật nên ký tên vào mặt sau của tờ giấy trắng, vì vậy nay các bị đơn không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
  • Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bị đơn xác nhận chữ ký trong giấy thỏa thuận mà nguyên đơn cung cấp là chữ viết và chữ ký của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh L, buộc các bị đơn liên đới trả số tiền còn nợ 800.000.000₫ cho nguyên đơn là có căn cứ, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T; Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện ủy quyền của bị đơn có đơn xin giảm án phí, lý do ông T là người cao tuổi, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng, sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết là đúng theo các quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. [1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Do vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
  2. [2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. [2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu các bị đơn Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị H trả số tiền đã mượn 800.000.000 đồng. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là giấy thỏa thuận lập ngày 08/02/2024 có chữ ký cửa vợ chồng ông T. Quá trình giải quyết vụ án, các bị đơn cũng thừa nhận chữ ký và chữ viết trên giấy thỏa thuận trên là của mình; Tuy nhiên, bị đơn cho rằng do không am hiểu pháp luật nên chỉ ký vào mặt sau của tờ giấy trắng còn mặt trước là phía bà L tự viết. Lời trình bày của bị đơn không được phía nguyên đơn thừa nhận, bị dơn cũng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn trả số tiền còn nợ 800.000.000 đồng là có căn cứ.
    2. [2.2] Đối với ý kiến của đại diện ủy quyền của bị đơn cho rằng thời hạn trả nợ các đương sự thỏa thuận 30/3/2032, tính đến thời điểm hiện tại thì nguyên đơn chưa có quyền khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy, ý kiến trên ông Đ là không có cơ sở, bởi lẽ căn cứ vào giấy thỏa thuận của các bên thì các bên thỏa thuận “hàng tháng phải trả cho chị Nguyễn Thị Thanh L 10.000.000 đồng”. Như vậy, đến thời hạn trả hàng tháng thì ông T, bà H không thực hiện theo thoả thuận là vi phạm nghĩa vụ của người vay. Do đó, căn cứ vào điều 357, Điều 463 và điều 466 của Bộ Luật Dân sự, bà L có quyền khởi kiện vợ chồng ông L để thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định.
    3. [2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ cũng cho rằng, trong trường hợp vợ chồng ông T không có tiền để trả cho bà L thì căn cứ vào giấy thỏa thuận giữa các bên, thửa đất của vợ chồng ông T trên phường H, thành phố N, Hậu Giang sẽ thuộc về bà L. Do đó, Tòa án sơ thẩm buộc các bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền là không phù hợp với ý chí của các bên. Ý kiến trên ông Đ là không có cơ sở, bởi lẽ quá trình giải quyết vụ án các bị đơn đã không thừa nhận nợ, cho rằng chỉ ký tên vào mặt sau của trang giấy trắng, mặt trước là nguyên đơn tự ý ghi nên không thể có trường hợp các bên tự nguyện đi ký, công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật để trừ cấn nợ, trong khi thỏa thuận trên cũng không xác định được thửa đất nào, diện tích bao nhiêu ...Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả lại số tiền vay là phù hợp.
  3. [3] Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, các bị đơn không có yêu cầu xin miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị đơn phải chịu án phí án phí dân sự sơ thẩm là đúng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của các bị đơn có yêu cầu xin được miễn tiền án phí dân sự cho ông Nguyễn Văn T, lý do ông T là người cao tuổi. Căn cứ Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông T. Đối với bà H không phải là người cao tuổi nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ liên đới (400.000.000 đồng). Đây là tình tiết phát sinh mới tại giai đoạn xét xử phúc thẩm nên việc sửa án trên không có lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
  4. [4] Từ những nhận định trên, xét thấy bị đơn Nguyễn Văn T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh gì mới có giá trị nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. [5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. [6] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phúc thẩm nên được miễn nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T.

Sửa bản án sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh L. Buộc các bị đơn Nguyễn Văn T và Nguyễn Thi H1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh L số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  3. Về án phí:

    Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị H phải chịu 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Bị đơn Nguyễn Văn T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh L được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) theo biên lai số 0005873 lập ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 – Cần Thơ).

    Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Nguyễn Văn T được miễn nộp theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 14 tháng 01 năm 2026.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND khu vực 13 – Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 13– Cần Thơ;
  • - THADS thành phố Cần Thơ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Đào Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 30/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger