Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH

Số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 24 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tào và bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 24/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 17/11/2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 10/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14/8/1987, tại xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Số CCCD 042087018758, cấp ngày 11/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 06/12; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng. Con ông Võ Văn K, sinh năm: 1944 và bà Võ Thị N, sinh năm: 1950, cùng cư trú tại thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Vợ Nguyễn Thị T, sinh năm: 1988. Con: Có ba con, đứa lớn sinh năm 2008, đứa nhỏ sinh năm 2014.Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/8/2025 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Anh Lê Văn L, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Anh Võ Văn B, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Hồng V, sinh năm: 1964; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  3. Anh Võ Khánh T1, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  4. Anh Lê Văn H, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  5. Anh Đặng Văn L1, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  6. Chị Nguyễn Thị A, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
  7. Anh Phùng Văn H1, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
  8. Anh Phùng Nam Q, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 07/5/2025 anh Phùng Nam Q, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh thuê anh Lê Văn L, sinh năm 1977, trú tại thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh đưa máy xúc khai thác đất đến đào rãnh để phân chia ranh giới phần đất trồng cây tại địa phận C, thôn L, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình điều khiển máy xúc đào rãnh phân chia ranh giới đến phần đất có tranh chấp với các hộ dân trong đó có đất của anh L thì anh L không nói với anh Q mà dừng máy lại không làm nữa rồi gọi điện thoại cho anh Võ Khánh T1, sinh năm 1989, trú cùng thôn cũng có phần đất giáp ranh với đất anh Q biết. Sau đó anh Võ Khánh T1 và Võ Văn D cùng với một số hộ dân có phần đất giáp ranh với phần đất của anh Q đến gặp và nói chuyện với anh Q rồi cùng nhau thống nhất về ranh giới để anh L tiếp tục đào rãnh phân chia ranh giới đất. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày sau khi mọi người vừa nói chuyện thống nhất với nhau xong và trong lúc anh L đang chưa lên máy để tiếp tục làm việc thì anh Võ Khánh T1 nói với anh D “Sao anh cũng có cây trong tổ mà đưa máy đến làm không báo với anh em” rồi đi ra chỗ khác, còn Võ Văn D tay phải cầm con dao là vũ khí quân dụng mà trước đó D mang theo để phát thực bì, dài 56 cm, cán bằng kim loại dài 29 cm, lưỡi bằng kim loại dài 27cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn vòng xuống đi vòng ra phía sau lưng anh L đang đứng, dùng chân đạp vào lưng anh L làm anh L đổ người về phía trước đồng thời tay phải cầm dao chém một nhát trúng vào gót chân phải của anh L. Hậu quả, anh Lê Văn L bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 07/5/2025 cho đến ngày 20/5/2025 ổn định ra viện. Ngày 10/5/2025 anh Lê Văn L làm đơn yêu cầu khởi tố.

Theo bệnh án điều trị và Bản kết luận giám định Pháp y số 170/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 24/6/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Anh Lê Văn L có các vết thương. Tổn thương nhánh thần kinh chày cổ chân, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%; đứt gân gót chân phải đã nối lại không ngắn chân, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%; gãy hở xương gót bàn chân phải đã phẩu thuật kết hợp xương, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%; mặt sau gót bàn chân phải vết thương kích thước lớn, tỷ lệ tổn thương cơ thể 03%. Áp dụng phương pháp cộng lùi: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Văn L do thương tích gây nên là 27% (Hai mươi bảy phần trăm).

Theo Bản kết luận giám định số 764/KL-KTHS ngày 18/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: một mẫu vật gửi giám định là dao sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao" của Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì con dao gửi giám định khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người trái pháp luật thì thuộc vũ khí quân dụng.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ một con dao có tổng chiều dài 56cm, cán bằng kim loại dạng hình tròn dài 29cm, đường kính 2,6 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn vòng xuống, phần rộng nhất 04cm. Vật chứng nói trên chưa xử lý, hiện nay đã chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 385.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại thay đổi yêu cầu, đề nghị bị cáo bồi thường tổng cộng số tiền là 324.220.000 đồng. Trước khi xét xử, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường được số tiền 190.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 134.220.000 đồng và bị cáo đồng ý với yêu cầu này.

Với hành vi trên, tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-KV2 ngày 14/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân vực 2 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Võ Văn D về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Về tội danh tuyên xử bị cáo Võ Văn D đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn D về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” mức án từ 13 tháng đến 15 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Võ Văn D phải chấp hành hình phạt tù từ 49 tháng đến 57 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 01/8/2025. Hình phạt bổ sung: Bị cáo Võ Văn D không có nghề nghiệp ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường được số tiền 190.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 134.220.000đồng, bị cáo đồng ý với yêu cầu này nên đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa về việc bị cáo bồi thường tiếp số tiền 134.220.000đồng cho bị hại anh Lê Văn L. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy 01 con dao có tổng chiều dài 56cm, cán bằng kim loại dạng hình tròn dài 29cm, đường kính 2,6 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, một lưỡi sắc, mũi nhọn vòng xuống, phần rộng nhất 04cm. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị hại trình bày về hình phạt đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 134.220.000đồng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù giữa bị cáo và anh Lê Văn L không có mâu thuẫn, nhưng khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/5/2025, bị cáo đã sử dụng một con dao có tổng chiều dài 56 cm, trong đó cán bằng kim loại dài 29 cm, lưỡi bằng kim loại dài 26 cm, có một lưỡi sắc và mũi nhọn cong xuống. Đây là hung khí nguy hiểm theo kết luận giám định số 764/KL-KTHS ngày 18/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H: dao sắc, nhọn thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” của Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C, quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, thì con dao sử dụng với mục đích xâm phạm sức khỏe công dân trái pháp luật thuộc vũ khí quân dụng. Bị cáo đã dùng con dao hung khí nguy hiểm nêu trên chém vào gót chân phải của anh Lê Văn L, gây thương tích khiến anh L phải đi cấp cứu và điều trị, anh L bị tổn hại 27% sức khỏe, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Võ Văn D là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội và căn cứ về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Giữa bị cáo và anh L không có mâu thuẫn gì, nhưng bị cáo đã sử dụng dao có tính sát thương cao chém anh L vào chân. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội và cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề xuất tại phiên tòa là phù hợp vừa thể hiện tính răn đe, nghiêm khắc của pháp luật, nhưng đồng thời cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt tiền bổ sung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại anh Lê Văn L số tiền 190.000.000đồng. Tại phiên tòa, bị hại anh Lê Văn L và bị cáo Võ Văn D đã thỏa thuận số tiền mà bị cáo tiếp tục bồi thường về chi phí điều trị, thuốc, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần số tiền 134.220.000đồng. Sự thỏa thuận này là tự nguyện, đúng quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ một con dao rựa có tổng chiều dài 56cm, cán bằng kim loại dạng hình trụ tròn dài 29cm, đường kính 2,6 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, một lưỡi sắc mũi nhọn vòng xuống, phần rộng nhất 04cm. Đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội hiện không có giá trị sử dụng nên cân tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[8] Về các nội dung khác: Chị Nguyễn Thị T (vợ bị cáo Võ Văn D) đã góp tiền bồi thường cho bị hại, tại phiên tòa chị không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 304; điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 55; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; điều 48 Bộ luật Hình sự,

Đa, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 584, 585, 586, 590; 601; 357; 468 Bộ luật Dân sự;

Điều 3; Điều 6; khoản 1, khoản 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Văn D phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo phải chấp hành là 51 (Năm mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 01/8/2025.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận về việc tiếp tục bồi thường số tiền 134.220.000đ (Một trăm ba mươi tư triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) của bị cáo Võ Văn D cho bị hại anh Lê Văn L.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì phải chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao rựa có tổng chiều dài 56cm, cán bằng kim loại dạng hình trụ tròn dài 29cm, đường kính 2,6 cm; phần lưỡi bằng kim loại dài 27cm, một lưỡi sắc mũi nhọn vòng xuống, phần rộng nhất 04cm.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như tại biên bản giao nhận ngày 27/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Hà Tĩnh).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Văn D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.711.000₫ (Sáu triệu bảy trăm mười một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND khu vực 2 - Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Trang Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH về vụ án hình sự (tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và tội cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và Tội Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn D phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger