|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 31 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vừ A Sinh
Ông Bùi Ngọc Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Minh T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh năm: 1983, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Tổ B, phường Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Trần Thị Q (đã ly hôn); chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/12/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội: Hiếp dâm và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 26/3/2003 Tòa án nhân dân Tối cao xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm. Ngày 23/8/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Các bản án này bị cáo đã được xóa án tích). Ngày 15/9/2017, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, đã hết thời hiệu thi hành Quyết định, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 02/9/2025, khi Trịnh Minh T dọn nhà ở thì thấy trong gầm cầu thang có 01 chiếc ống điếu tự chế bên trong có chứa nước trước đây T dùng để sử dụng Methamphetamine. T lấy ống điếu ra đổ hết nước vào trong 01 chiếc xoong rồi đun cạn nước cô thành chất bột màu trắng, sau đó T cạo hết lớp chất bột bám trong xoong ra và dùng ống điếu để sử dụng hết bằng hình thức đốt, hút. Ngày 05/9/2025, sau khi tiếp nhận tin báo của công dân Công an phường Đ đã tiến hành test nhanh để kiểm tra chất ma túy trong cơ thể Trịnh Minh T, kết quả: Dương tính với chất ma túy; Đồng thời tiến hành thu mẫu nước tiểu của T để trưng cầu giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 946/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Trịnh Minh T gửi giám định có chứa chất ma túy loại Methamphetamine. Ngày 15/9/2025, khi khám nghiệm hiện trường đã thu giữ của Trịnh Minh T 01 chai (lọ) thủy tinh và 01 chiếc xoong (nồi) nhỏ bằng kim loại có quai cầm bằng nhựa màu đen. Ngày 16/9/2025, Trinh Minh T3 bị bắt tạm giam.
Trịnh Minh T đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone H, Trung tâm y tế Đ từ ngày 23/5/2024 cho đến khi bị bắt.
Tại Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSKV1 ngày 27/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên truy tố bị cáo Trịnh Minh T về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 (sau đây gọi tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chai (lọ) thủy tinh và 01 chiếc xoong (nồi) nhỏ bằng kim loại có quai cầm bằng nhựa màu đen. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 02/9/2025, tại nhà ở của mình Trịnh Minh T đã sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone H, Trung tâm y tế Đ, Sở Y tế tỉnh Đ. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Nhân thân: Ngày 05/12/2002 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù về tội: Hiếp dâm và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 26/3/2003 Tòa án nhân dân Tối cao xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm, ngày 28/4/2005 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 23/8/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 29/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Tính đến ngày phạm tội mới đã được xoá án tích đối với các bản án trên. Ngày 15/9/2017, bị cáo bị Công an thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, đã hết thời hiệu thi hành Quyết định, đến nay được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ và mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về vật chứng của vụ án: 01 chai (lọ) thủy tinh và 01 chiếc xoong (nồi) nhỏ bằng kim loại có quai cầm bằng nhựa màu đen không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trịnh Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/9/2025).
- Xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chai (lọ) thủy tinh và 01 chiếc xoong (nồi) nhỏ bằng kim loại có quai cầm bằng nhựa màu đen. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Điện Biên).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Phạm Thị Châm |
Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 02 năm 06 tháng tù
