Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Bản án số: 29/2025/HS-ST

Ngày: 30-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Xuân Dũng
- Ông Phan Văn Thóc

- Thư ký phiên tòa: Bà Mào Thị Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST- HS ngày 16/12/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Tống Văn T - Sinh năm 1992.

    Nơi cư trú: Bản B, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu (nay là: Bản Bó, xã M, tỉnh Lai Châu); Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống Văn V - sinh năm 1961 và bà Tống Thị N - sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Lò Thị H và 02 con; Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình;

    Tiền án: Bị cáo Tống Văn T có 01 tiền án. Theo bản án số 40/2023 ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc trả lại cho bị hại số tiền 21.654.148 đồng, đồng thời chịu 1.082.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2024, chưa trả lại số tiền trên cho

bị hại (bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án). Tính đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2025 cho đến nay (Có mặt).

  1. Họ và tên: Lò Văn T1 - Sinh năm 1981.

    Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu (nay là: Bản N, xã M, tỉnh Lai Châu); Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn P - sinh năm 1954 và bà Đao Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ là Tống Thị T2 và 03 con; Con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

    Tiền án: Tại bản án số 14/2023, ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu) xử phạt Lò Văn T1 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/9/2024. Tính đến ngày phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2025 cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Đức T3 - sinh năm 1991

Nơi cư trú: Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Nơi tạm trú: Bản N, xã M, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tống Văn T và Lò Văn T1 cùng làm thuê cho anh Vũ Đức T3 (sinh năm 1991, tạm trú tại bản N, xã M, tỉnh Lai Châu).

Vào trưa ngày 07/6/2025, trong quá trình đào rãnh thoát nước tại khu vực D, thuộc bản P, xã M, T rủ T1 cùng ứng tiền công của anh T3 để mua ma túy sử dụng, T1 đồng ý.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, T và T1 đến lán công trình gặp anh T3 xin ứng tiền. T đứng ngoài, T1 vào gặp anh T3, ứng mỗi người 50.000 đồng (nói là để mua đồ dùng cá nhân). Sau đó, T1 tự ý điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 18E1-024.35 của anh T3, chở T đến khu vực điểm dân cư Nậm Pặm, bản P, xã M để tìm mua ma túy.

Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực N, T và T1 gặp một phụ nữ lạ mặt. T1 đưa cho T 100.000 đồng (là số tiền cả hai ứng được từ anh T3) để T trực tiếp mua ma túy. T đưa tiền cho người phụ nữ và mua được 01 gói Heroine, được gói trong mảnh nilon màu hồng. Sau khi mua được, T1 nhặt một vỏ bao

thuốc lá Thăng Long màu vàng, cho gói Heroine vào bên trong lớp nilon bọc ngoài bao thuốc, rồi đưa cho T cầm. Thủy giữ gói Heroine bằng tay trái, ngồi sau xe mô tô để T1 điều khiển quay về lán công trình.

Đến khoảng 12 giờ 08 phút cùng ngày, khi T và T1 đi đến khu vực bản P, xã M, bị Tổ công tác Công an xã M phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số D, Phòng PC08 Công an tỉnh L đang tuần tra kiểm soát yêu cầu dùng xe. Quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện và thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 gói Heroine như đã nêu. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giỏm định số 494/KL-KTHS ngày 11/6/2025 của Phũng K - Cụng an tỉnh L xỏc định: Số chất bột màu trắng thu giữ của Tống Văn T và Lũ Văn T1 cú khối lượng 0,18 gam, là ma tỳy loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSKV4 ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố Tống Văn T và Lũ Văn T1 cựng về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố các bị cáo Tống Văn T và Lò Văn T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" xử phạt bị cáo Tống Văn T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Lò Văn T1 mức án từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đức T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, biển kiểm soát 18E1-024.35

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày đề nghị xin lại chiếc xe mô tô các bị cáo đã sử dụng

để đi mua ma túy. Do đây là tài sản hợp pháp của anh và khi các bị cáo sử dụng để đi mua ba túy anh không biết.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo:

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 12 giờ 08 phút ngày 07/6/2025 tại bản Pắc Ma, xã M, tỉnh Lai Châu, Tống Văn T và Lò Văn T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,18 gam Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị bắt quả tang.

Các bị cáo Tống Văn T, Lò Văn T1 đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phép 0,18 gam Heroine để sử dụng của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, hai bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Tống Văn T là người khởi xướng, tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Lò Văn T1.

Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của các bị cáo nên được chấp nhận.

Do các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/7/2025, theo quy định không có lợi cho người phạm tội tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không áp dụng mức hình phạt theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân:

Bị cáo Tống Văn T có 01 tiền án. Theo bản án số 40/2023 ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc trả lại cho bị hại số tiền 21.654.148 đồng, đồng thời chịu 1.082.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2024, chưa trả lại số tiền trên cho bị hại (bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án). Tính đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích.

Bị cáo Lò Văn T1 có 01 tiền án tại bản án số 14/2023, ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu) xử phạt Lò Văn T1 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/9/2024. Tính đến ngày phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích.

Tình tiết tăng nặng: Do các bị cáo đều có 01 tiền án, chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên các bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng "Tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015.

Do các bị cáo đều có tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo đều là người nghiện chất ma túy, đều đã đi chấp hành án thời gian 01 năm 06 tháng nhưng không từ bỏ được ma túy, hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc hơn, đủ để các bị cáo cai nghiện ma túy, đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017): “Người phạm tội còn có thể bị phạt

tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo hiện không có công việc và thu nhập ổn định, các bị cáo đều sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: 0,18 gam Heroine cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phù hợp với quy định của pháp luật. 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng là vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 xe mô tô nhãn Honda Wave a, màu đen, biển kiểm soát 18E1-024.35 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Vũ Đức T3. Khi các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội anh T3 không biết nên cần trả lại cho anh T3 theo quy định.

[6]. Về những vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ lạ mặt đã bán Heroine cho Tống Văn T và Lò Văn T1: Quá trình điều tra xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý.

Đối với Vũ Đức T3 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18E1-024.35: Quá trình điều tra xác định anh T3 không biết việc T và T1 sử dụng xe để đi mua ma túy. Do đó, anh T3 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đối với việc Tống Văn T và Lò Văn T1 sử dụng xe mô tô của Vũ Đức T3: Quá trình điều tra xác định các bị cáo không có ý định chiếm đoạt xe, chỉ sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy và sẽ trả lại, nên không cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định.

[7]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 46; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố các bị cáo Tống Văn T, Lò Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Tống Văn T 01 năm 09 tháng tù. Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày các bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đức T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, biển kiểm soát 18E1-024.35

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4 - Lai Châu được lập vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 27 tháng 11 năm 2025)

  4. Án phí: Bị cáo Tống Văn T và Lò Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 4 - Lai Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL, NV LQ;
  • - Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4 - Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 29/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger