|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 281/2025/HS-ST
Ngày 26 tháng 12 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Định
2. Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Linh Hương - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2025/HSST ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngụy Thị N, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không; Tại: Bắc Ninh. Giới tính: Nữ. Nơi thường trú: tổ dân phố số E, phường Y, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Văn hóa: 12/12. Con ông: Ngụy Văn H, sinh năm 1963 và con bà: Hà Thị L, sinh năm 1967. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Chồng: Đặng Đình L1, sinh năm 1992. Bị cáo có hai con, cùng sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo dụng biện pháp C đi khởi nơi cư trú, hiện tại ngoại
( Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1942 (Đã chết)
Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh
Người đại diện hợp pháp của ông K:
1. Bà Vũ Thị D, sinh năm 1943(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố Xuân Đông, phường Tân Tiến, tỉnh Bắc Ninh
1
2. Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1961(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh
3. Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1962(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh
4. Anh Nguyễn Hữu S1, sinh năm 1974(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh
5. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm1978(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh
6. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1971(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh
Đại diện theo ủy quyền của bà D, anh H1, anh S1, chị T, chị N1: anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1961. Địa chỉ: tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Theo Giấy ủy quyền ngày 17/12/2025 (Vắng mặt )
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH D1
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh)
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
2. Anh Trần Đức T2, sinh năm 1984(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố số D, phường Y, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngụy Thị N, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố số E, phường Y, tỉnh Bắc Ninh có Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 241149890208 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp.
Buổi sáng ngày 08/7/2025, Ngụy Thị N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A-474.32 của Công ty TNHH D1 đến Công ty TNHH U ở tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh để làm việc. Sau đó, N điều khiển xe ô tô đi từ Công ty về nhà để lấy đồ dùng cá nhân. Khoảng 09 giờ 05 phút cùng ngày, N điều khiển xe ô tô đi trên đường T đến khu vực giao nhau giữa đường T với đường liên tổ dân phố X thuộc địa phận phường T, tỉnh Bắc Ninh với tốc độ khoảng 50km/h. Lúc này, N
2
nhìn thấy xe đạp máy do ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1942, trú tại tổ dân phố X, phường T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển đang đi ở sát mép đường bên phải phía trước cùng chiều cách khu vực giao khoảng 30 mét, N bấm còi để xin vượt rồi điều khiển xe ô tô đi thẳng ở giữa đường để qua khu vực ngã tư. Khi xe ô tô do N điều khiển vừa đi vào khu vực giao nhau thì ông K điều khiển xe chuyển hướng rẽ sang bên trái nhưng không làm tín hiệu báo hướng rẽ. N có đạp phanh và đánh lái sang trái để tránh thì phần đầu bên phải xe ô tô do N điều khiển đâm vào bên trái xe đạp máy do ông K điều khiển. Sau khi xảy ra va chạm, xe đạp máy đổ trượt ra mặt đường, ông K bị ngã xuống mặt đường. N điều khiển xe ô tô đưa ông K đến Trung tâm y tế thành phố B cấp cứu rồi quay lại hiện trường để giải quyết vụ tai nạn. Hậu quả, ông K bị thương nặng được gia đình đưa đi Bệnh viện Đ và Bệnh viện H3 điều trị đến ngày 08/8/2025 thì bị chết.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu của ông Nguyễn Hữu K dưới ngưỡng định lượng và âm tính với ma tuý. Đối với Ngụy Thị N không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.
Kết quả xác minh tại Phòng C1 Công an tỉnh B xác định Ngụy Thị N có Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 241149890208 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp, có giá trị đến ngày 19/09/2029.
* Kết quả dựng lại hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại ngã tư giao nhau giữa đường T với tuyến đường liên tổ dân phố X - cánh đồng tổ dân phố X thuộc Km 8+350 đường T, địa phận phường T, tỉnh Bắc Ninh.
Mặt đường được trải áp phan nhựa thẳng, phẳng, giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng, đều nhau phân chia hai phần đường cho phương tiện di chuyển ngược chiều nhau. Khám nghiệm hiện trường bên phải, bên trái được tính theo chiều đi của đường tỉnh 299 theo hướng tỉnh lộ 293 - phường Y. Lấy mép đường phải làm chuẩn. Lấy chân cột mốc có ký hiệu Km 8 + 400 tại vị trí ngoài mép đường phải, cách mép đường phải về phía Nam 60cm làm điểm mốc. Trên hiện trường có các dấu vết sau:
Xe đạp máy đổ nghiêng bên phải, tại vị trí bên ngoài mép đường phải, đầu xe quay hướng B, tâm trục bánh trước cách mép đường phải 100cm, tâm trục bánh sau cách mép đường phải 30cm và cách điểm mốc về phía Tây 975cm. Ký hiệu (1).
Vết cày xước kích thước (3125x20)cm, chiều hướng T nổi màu trắng trên mặt đường, trong khu vực ngã tư. Đầu vết cách mép đường phải là 390cm, cách tâm lối vào đường liên tổ dân phố X hướng đi Cánh đồng X 1240 cm; cuối vết kết thúc tại bàn đạp bên phải xe (1). Ký hiệu (2).
3
Vùng mảnh vỡ có kích thước (1600x280)cm, tâm vết cách mép đường phải 130cm và cách tâm trục bánh sau xe (1) là 830cm. Ký hiệu (3).
Vết máu màu đỏ trên mặt đường có kích thước (60x40)cm, tâm vết cách mép đường phải 350cm, cách đầu vết (2) là 2085cm và cách tâm vết (3) về phía T 310cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) là 1100cm. Ký hiệu (4).
Xe ô tô biển kiểm soát 98A-474.32 đỗ trên mặt đường bên trái, đầu xe hướng T, tâm trục bánh trước cách mép đường phải 595cm và cách tâm trục bánh sau xe (1) về hướng Tây - Bắc 1010cm; tâm trục bánh sau cách mép đường phải 540cm và cách đầu vết (2) là 1980cm. Ký hiệu (5) (bút lục 73-74).
* Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển số 98A-474.32
Kính chắn gió phía trước bị đập vỡ kính nhựa kích thước (134x87)cm. Cạnh trước cột A bên phải có vết bẹp lõm kim loại hướng từ trên xuống dưới, từ trước về sau, kích thước (8x2)cm.
Tại vị trí góc phải lắp capo có nhiều vết mài sát bẹp móp kim loại, bám dính chất màu đen nghi cao su, kích thước (41x20)cm. Ốp kim loại, đầu xe bên phải có vết cong vênh bẹp móp kim loại hướng từ phải qua trái, từ trước về sau, kích thước (57x20)cm.
Cua lốp bánh trước bên phải bật chốt cố định, bề mặt có nhiều vết mài sát nhựa, kích thước (37x7,5)cm. Mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải có nhiều vết mài sát cao su sạch bụi, bám dính chất màu trắng bạc nghi sơn, tổng kích thước (70x5)cm, điểm gần nhất tương ứng với chân van.
Mặt ngoài kính nhựa đèn pha phía trước bên phải có vết màu sát kích thước (16x2,5)cm. Ba bờ sốc phía trước bên phải bật chốt cố định, bề mặt có nhiều vết mài sát vỡ nhựa, tổng diện (70x64)cm.
* Kết quả khám nghiệm xe đạp máy
Tay lái cong vặn hướng từ trái qua phải, vỡ khuyết đèn chiếu sáng phía trước đầu xe. Cạnh trước đầu tay nắm phải có vết mài sát mòn cao su, kích thước (2,5x2)cm.
Hệ thống đồng hồ điện gãy rời khỏi vị trí cố định. Góc phải giỏ xe có vết mài sát nhựa, kích thước (7x1)cm. Yên xe xoay tự nhiên hướng từ trái qua phải tại vị trí cạnh phải của yên có vết mài sát tổng trên diện (21x4,5)cm.
Bàn đạp bên phải xe bị dập vỡ, khuyết nhựa. Để chân sau bên phải cong chùn hướng từ dưới lên trên. Đầu ngoài có vết mài sát kích thước (4,5x0,4)cm. Vỡ khuyết toàn bộ ốp bảo vệ bình điện, các bình điện bật rời khỏi vị trí ban đầu.
4
Vành bánh sau cong vênh có nhiều vết nứt kim loại, gãy khuyết kim loại. Tổng trên diện (36x15)cm, hở hệ thống săm lốp. Góc trái giỏ xe có nhiều vết vỡ khuyết nhựa. Tổng trên diện (28x25)cm.
Mặt ngoài khung xe phía sau bên trái có nhiều vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su. Tổng trên diện (30x30)cm. Để chân sau bên trái cong gập hướng từ trên xuống dưới, từ sau về trước. Chắn bùn sau phía sau cong vênh hướng từ trái qua trái, từ sau về trước.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Hữu K
Khám bên ngoài: Vùng đầu: Hai mắt khép kín, đồng tử hai bên dãn to; hai lỗ tai khô; hai lỗ mũi và miệng có dịch đục vàng; trán có diện xây sát, bầm tím da kích thước (5x4)cm; gò má phải có diện xây sát kích thước (3,5x2,5)cm; vùng cằm phải có diện xây sát, bầm tím da kích thước (3x2)cm.
Mổ tử thi: Kiểm tra hai lỗ mũi bên trong thấy có dịch đục lẫn dịch màu hồng. Kiểm tra khoang miệng bên trong thấy: Lưỡi trong cung răng, bên trong có dịch màu hồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của ông Nguyễn Hữu K và cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông.
Kết luận giám định tử thi số 2283/KLGĐTT-KTHS ngày 08/9/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận:
1- Các kết quả chính:
- Trên cơ thể Nguyễn Hữu K có các tổn thương sây sát, bầm tím da tập trung ở các vùng đầu, mặt.
- Xét nghiệm:
+ Phiếu kết quả cắt lớp vi tính sọ não: Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não trái. Ô dụng dập nhu mô não thùy trán trái. Xuất huyết dưới nhện vùng lều tiểu não bên trái, liềm đại não, vùng tiểu não - chẩm trái, vùng đỉnh hai bên.
+ Phiếu kết quả cắt lớp vi tính lồng ngực: Hình ảnh tràn dịch khoang màng phổi hai bên gây xẹp thụ động nhu mô phổi sát vùng tràn dịch hai bên. Gãy các xương sườn 3, 4, 5, 6, 7 bên phải.
+ Phiếu kết quả Xquang đùi phải: Hình ảnh gãy cổ xương đùi phải.
2- Kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Hữu K do đa chấn thương không hồi phục: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy cổ xương đùi phải đã phẫu thuật và điều trị 30 ngày.
5
Kết luận giám định số 2493/KL-KTHS ngày 20/9/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:
- Dấu vết dập vỡ, trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu đen tại mặt trên bên phải nắp capo trước của xe ô tô biển kiểm soát 98A - 474.32, có hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (ảnh số 8 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt cao su tại ốp tay nắm bên trái của xe đạp máy, trong tư thế đứng, có hướng từ sau ra trước (ảnh số 28 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng tại bên phải ba đờ sốc trước, má lốp ngoài trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98A - 474.32, có hướng từ trước ra sau (từ ảnh số 11 đến 16 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên trái của xe đạp máy gồm: yên xe, ốp đựng bình ắc quy, bên trái khung xe phía sau, để chân sau, chắn bùn bánh sau, lốp và vành bánh sau, có hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước (từ ảnh số 16 đến 19 và từ ảnh 23 đến 27 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết chùn cong, mài sát sơn, nhựa, kim loại tại bên phải của xe đạp máy gồm: đầu tay nắm, đầu tay phanh, giỏ xe, yên xe, bàn đạp, để chân sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe đạp máy đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường, đồng thời tạo nên hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 2 trên hiện trường.
- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển kiểm soát 98A - 474.32 với xe đạp máy trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 2, thuộc chiều chuyển động bên trái của đường T theo hướng đường T đi phường Y (tại đoạn giao nhau giữa đường T với tuyến đường hướng cánh đồng đi tổ dân phố X).
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 11 file video trích xuất trong thẻ nhớ từ camera hành trình của xe ô tô biển số 98A-474.32.
Kết luận giám định số 2336/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:
1- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 11 file video được lưu trữ trong USB gửi giám định.
2- Trích xuất được 08 hình ảnh có liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.
6
Kết luận định giá tài sản số 220/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh, kết luận: Xe ô tô biển số 98A - 474.32 bị hư hỏng trị giá là: 19.666.800 đồng; xe đạp máy bị hư hỏng trị giá là: 680.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Ngụy Thị N đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Hữu K tổng số tiền 240 triệu đồng. Ông Nguyễn Hữu S là đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị can.
Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe ô tô biển số 98A - 474.32 kèm 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 thẻ nhớ của xe ô tô cho anh Nguyễn Văn Thế L2 người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH D1, anh T1 không có yêu cầu bồi thường; trả lại 01 xe đạp máy cho ông Nguyễn Hữu S.
Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 241149890208 mang tên Ngụy Thị N được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra, bị cáo Ngụy Thị N đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 09 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Ngụy Thị N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Ngụy Thị N khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng tội, không oan sai. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Về phần trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 240.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Ngụy Thị N 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng
7
tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo cho UBND phường Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B1 số 24114980208.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Ngụy Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để chăm lo con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt Đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngụy Thị N có Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 241149890208 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp. Khoảng 09 giờ ngày 08/7/2025, N điều khiển xe ô
8
tô biển số 98A-474.32 đi đến khu vực giao nhau giữa đường T với tuyến đường liên tổ dân phố X - cánh đồng tổ dân phố X thuộc địa phận phường T, tỉnh Bắc Ninh thì gặp ông Nguyễn Hữu K điều khiển xe đạp máy đang đi phía trước cùng chiều. Khi N điều khiển xe đi vào khu vực ngã tư thì ông K điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái nhưng không làm tín hiệu báo hướng rẽ. Do không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi đến nơi đường bộ giao nhau nên xe ô tô do N điều khiển đã đâm vào xe đạp máy của ông K. Hậu quả làm ông K bị thương nặng được đưa đi cấp cứu đến ngày 08/8/2025 thì chết. Hành vi của N vi phạm khoản 1 Điều 10 và điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Đối với ông K có lỗi vì điều khiển xe chuyển hướng nhưng không có tín hiệu báo hướng rẽ, không đảm bảo an toàn với xe đi từ phía sau, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của Ngụy Thị N đã vi phạm Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm các quy định khi tham gia giao thông của bị cáo N làm chết 1 người, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
[5] Xét về mức độ lỗi: Bị cáo là người có giấy phép lái xe theo quy định, khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã không giảm tốc độ khi đi vào khu vực đường bộ giao nhau đã vi phạm khoản 1 Điều 10 và điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, giao đường bộ, là nguyên nhân dẫn đến tai nạn làm ông Nguyễn Hữu K bị thương nặng và tử vong nên phải chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, bị hại cũng có một phần lỗi do điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái không có tín hiệu báo rẽ, không bảo đảm an toàn đối với phương tiện đi phía sau, hành vi này đã góp phần dẫn đến việc xảy ra tai nạn. Do vậy cần xem xét mức độ lỗi của bị hại để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
[6] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xét xử hình sự và bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối
9
cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[8] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo phải không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[9] Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Mặc dù hậu quả của hành vi phạm tội là nghiêm trọng với lỗi vô ý, bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, là người chăm chỉ lao động, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc sống đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ sở cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, chưa cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để bị cáo lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội.
[10] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy,bị cáođiều khiển ôtôtham gia giao thông đường bộ phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác. Xét thấy sự thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt xem xét, giải quyết.
[12] Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B1 số 24114980208 mang tên Ngụy Thị N cần trả lại bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên.
10
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngụy Thị N 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Ngụy Thị N 01 giấy phép lái xe hạng B1 số 24114980208 .
(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/12/2025 giữa Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Bắc Ninh và cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngụy Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
5. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
11
Đinh Thị Thu H2
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thu Hà |
12
Bản án số 281/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 281/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buổi sáng ngày 08/7/2025, Nguỵ Thị Ngân điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A-474.32 của Công ty TNHH dịch vụ thương mại và xây dựng Phúc Thịnh đến Công ty TNHH UNICO GLOBAL VN ở tổ dân phố Thượng, phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh để làm việc. Sau đó, Ngân điều khiển xe ô tô đi từ Công ty về
